Trang Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Hòa Bình

Trang Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Hòa Bình Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Trang Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Hòa Bình, Legal, Số 566, Đường Trần Hưng Đạo, Tp Hòa Bình, Hòa Bình.

Trang Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Hòa Bình là Trang thông tin hoạt động trên Facebook do cơ quan Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình chủ quản nhằm cung cấp thông tin pháp luật chính xác cho cộng đồng Facebook

KHAI TRƯƠNG CỔNG PHÁP LUẬT QUỐC GIAVới hàng loạt tiện ích đột phá như AI pháp luật, phản ánh – kiến nghị trực tuyến, tra...
03/06/2025

KHAI TRƯƠNG CỔNG PHÁP LUẬT QUỐC GIA

Với hàng loạt tiện ích đột phá như AI pháp luật, phản ánh – kiến nghị trực tuyến, tra cứu văn bản nhanh chóng, lấy ý kiến công khai… Cổng Pháp luật Quốc gia mở ra một không gian pháp lý minh bạch, thân thiện, dễ tiếp cận, góp phần xây dựng một xã hội số thịnh vượng, công bằng và nhân văn.
Hướng tới Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, 4 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị số 57, 59, 66 và 68 chính là kim chỉ nam, là bản thiết kế tầm vóc cho tương lai đất nước.
Đặc biệt, dựa theo tinh thần của nghị quyết 66, những yêu cầu đang đặt ra về phát triển kinh tế tư nhân theo nghị quyết 68, cũng như chủ trương về ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo nghị quyết 57, sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Cổng Pháp luật quốc gia tại địa chỉ phapluat.gov.vn đã được Bộ Tư pháp xây dựng và sẵn sàng cho việc vận hành.
Cổng Pháp luật quốc gia được xây dựng với sứ mệnh phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận chính sách pháp luật, thực hiện quyền phản ánh kiến nghị với các cơ quan tổ chức chính sách pháp luật trên môi trường số.
Với phương châm Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Công khai - Minh bạch - Thân thiện - Dễ tiếp cận, Cổng Pháp luật quốc gia tích hợp nhiều tính năng hiện đại như: Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị văn bản quy phạm pháp luật; Tra cứu văn bản pháp luật; Sử dụng AI pháp luật; Lấy ý kiến dự thảo; Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp; Trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, Cổng hỗ trợ ứng dụng di động, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi.
Thời gian tới, Cổng sẽ tiếp tục hoàn thiện với nhiều tính năng hiện đại và thân thiện.
Trong thời đại công nghệ số, sự ra đời của Cổng Pháp luật quốc gia góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống và xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đồng thời xây dựng thành công Chính phủ số; Kinh tế số; Xã hội số; Công dân số, hướng tới mục tiêu chung, là sự phát triển thịnh vượng của quốc gia, dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Cổng Pháp luật quốc gia đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp bước vào Kỷ nguyên mới.
Nguồn: Báo Pháp luật

03/06/2025

KHAI TRƯƠNG CỔNG PHÁP LUẬT QUỐC GIA

Với hàng loạt tiện ích đột phá như AI pháp luật, phản ánh – kiến nghị trực tuyến, tra cứu văn bản nhanh chóng, lấy ý kiến công khai… Cổng Pháp luật Quốc gia mở ra một không gian pháp lý minh bạch, thân thiện, dễ tiếp cận, góp phần xây dựng một xã hội số thịnh vượng, công bằng và nhân văn.
Hướng tới Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, 4 nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị số 57, 59, 66 và 68 chính là kim chỉ nam, là bản thiết kế tầm vóc cho tương lai đất nước.
Đặc biệt, dựa theo tinh thần của nghị quyết 66, những yêu cầu đang đặt ra về phát triển kinh tế tư nhân theo nghị quyết 68, cũng như chủ trương về ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo nghị quyết 57, sự chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Cổng Pháp luật quốc gia tại địa chỉ phapluat.gov.vn đã được Bộ Tư pháp xây dựng và sẵn sàng cho việc vận hành.
Cổng Pháp luật quốc gia được xây dựng với sứ mệnh phục vụ người dân, doanh nghiệp trong tiếp cận chính sách pháp luật, thực hiện quyền phản ánh kiến nghị với các cơ quan tổ chức chính sách pháp luật trên môi trường số.
Với phương châm Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Công khai - Minh bạch - Thân thiện - Dễ tiếp cận, Cổng Pháp luật quốc gia tích hợp nhiều tính năng hiện đại như: Hệ thống tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị văn bản quy phạm pháp luật; Tra cứu văn bản pháp luật; Sử dụng AI pháp luật; Lấy ý kiến dự thảo; Hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp; Trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, Cổng hỗ trợ ứng dụng di động, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi.
Thời gian tới, Cổng sẽ tiếp tục hoàn thiện với nhiều tính năng hiện đại và thân thiện.
Trong thời đại công nghệ số, sự ra đời của Cổng Pháp luật quốc gia góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống và xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đồng thời xây dựng thành công Chính phủ số; Kinh tế số; Xã hội số; Công dân số, hướng tới mục tiêu chung, là sự phát triển thịnh vượng của quốc gia, dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân.
Cổng Pháp luật quốc gia đồng hành cùng người dân, doanh nghiệp bước vào Kỷ nguyên mới.
Nguồn: Báo Pháp luật

BAN DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã ...
12/11/2024

BAN DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh năm 2024 (bao gồm cả nguồn vốn năm 2023 chưa giải ngân hết chuyển sang năm 2024).
Ngày 12/11/2024 Ban Dân tộc tỉnh ban hành công văn số 2489/BDT-CSDT về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh năm 2024 (bao gồm cả nguồn vốn năm 2023 chưa giải ngân hết chuyển sang năm 2024) gửi: Các Sở, Ban, ngành; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố.
Theo đó, Quyết định số 1108/QĐ-UBND ngày 21/6/2024 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2024 (lần điều chỉnh 2, kỳ tháng 6); Quyết định số 2369/QĐ-UBND ngày 08/11/2024 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2024 (lần điều chỉnh 5, kỳ tháng 10);
Căn cứ Quyết định số 250/QĐ-UBND ngày 19/02/2024 của Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt danh mục công trình, dự án thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư để thực hiện đầu tư năm 2024-2025 thuộc nguồn vốn đầu tư phát triển Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 629/QĐ-UBND ngày 10/4/2024; Quyết định số 1306/QĐ-UBND ngày 16/7/2024; Quyết định số 1468/QĐ-UBND ngày 05/8/2024 của UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh danh mục công trình, dự án thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư để thực hiện đầu tư năm 2024-2025 thuộc nguồn vốn đầu tư phát triển Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Quyết định số 1156/QĐ-UBND ngày 28/6/2024 của UBND tỉnh phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư dự kiến một số công trình thuộc danh mục công trình, dự án thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư để thực hiện đầu tư năm 2024-2025 thuộc nguồn vốn đầu tư phát triển Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình; Căn cứ Kế hoạch số 71/KH-UBND ngày 04/4/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình;
Căn cứ Quyết định số 1853/QĐ-UBND ngày 20/9/2024 về việc điều chỉnh dự toán kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2024 tại Quyết định số 673/QĐ-UBND ngày 15/4/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh và dự toán kinh phí sự nghiệp chưa giải ngân hết trong năm 2023 đã được chuyển nguồn sang năm 2024; Quyết định số 2345/QĐ-UBND ngày 7/11/2024 về việc điều chỉnh dự toán kinh phí sự nghiệp các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2024 (kinh phí năm 2024 và kinh phí năm 2023 chuyển nguồn sang năm 2024).
Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện nguồn vốn (bao gồm vốn đầu tư và vốn sự nghiệp) năm năm 2024 (kinh phí năm 2024 và kinh phí năm 2023 chuyển nguồn sang năm 2024) thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh. Ban Dân tộc (cơ quan thường trực Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh) đề nghị các Sở, Ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố được giao vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp của Chương trình tập trung chỉ đạo, thực hiện một số nội dung sau:
1. Thực hiện nguồn vốn đầu tư
Trên cơ sở Quyết định đã được Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh nguồn vốn đầu tư công thực hiện năm 2024 ( bao gồm kinh phí năm 2024 và kinh phí năm 2023 chuyển nguồn sang năm 2024), Ban Dân tộc đã tham mưu trình Ủy nhân dân tỉnh điều chỉnh và bổ sung các danh mục đầu tư tại Kế hoạch số 71/KH-UBND ngày 04/4/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, năm 2024 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Đề nghị các Sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố nghị tập trung chỉ đạo, khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân nguồn vốn năm 2024 theo quy định.
2. Đối với nguồn vốn sự nghiệp
- Hiện nay, nguồn vốn sự nghiệp đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định điều chỉnh các dự án, tiểu dự án thành phần thực hiện nguồn vốn sự nghiệp 2024 ( bao gồm kinh phí năm 2024 và kinh phí năm 2023 chuyển nguồn sang năm 2024). Đề nghị các đơn vị căn cứ nội dung, đối tượng địa bàn khẩn trương xây dựng nội dung dự toán chi tiết trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện giải ngân nguồn vốn năm 2024 theo quy định.

- Đối với một số Sở, ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đề xuất giảm kinh phí do không còn đối tượng và nhiệm vụ chi. Ban Dân tộc đã tổng hợp thực hiện việc rà soát nhiệm vụ chi vốn sự nghiệp giai đoạn 2022-2024 trên địa bàn toàn tỉnh, đến thời điểm hiện nay các Sở, ban, ngành tỉnh và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố không có nhu cầu bổ sung kinh phí thực hiện trong năm 2024. Do vậy, để tiếp tục triển khai thực hiện nguồn kinh phí đã được giao nhưng chưa sử dụng hết và không đề nghị điều chỉnh. Đề nghị các đơn vị tiếp tục thực hiện rà soát trong năm 2024 về mục tiêu, đối tượng, các nội dung thành phần dự án, tiểu dự để thực hiện nguồn kinh phí chưa thực hiện hếttổ chức triển khai thực hiện trong năm 2024 để đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ mục tiêu của Chương trình và hoàn thành việc giải ngân theo quy định. Yêu cầu Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố nghiêm túc, quyết liệt, đồng bộ triển khai các ý kiến chỉ đạo của Tỉnh ủy tại Công văn số 605-CV/TU ngày 02/7/2024 và chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tại công văn số 819/UBND-KTN ngày 03/6/2024 và các văn bản chỉ đạo của tỉnh. Thủ trưởng các Sở, ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả thực hiện và tiến độ giải ngân các nguồn vốn năm 2024 được giao của Chương trình trên địa bàn.
3. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo tiến độ của Chương trình theo đúng quy định, đảm bảo tính chính xác, thống nhất về thông tin, số liệu, nội dung báo cáo đối với các dự án, tiểu dự án, nội dung thành phần phản ánh rõ những công việc đã thực hiện, chưa thực hiện, tiến độ thực hiện, giải ngân, tồn tại, khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp tháo gỡ.
* Riêng đối với 02 huyện Đà Bắc, Lạc Sơn đã được giao phân cấp thí điểm, đề nghị rà soát các nội dung điều chỉnh của dự án theo thẩm quyền đã được quy định tại Nghị quyết 111/2024/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; Văn bản số 5817/BKHĐT-TCTT ngày 273/7/2024 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tổ chức trhực hiện Nghị quyết số 111/2024/QH15 và các văn bản của Tỉnh: Nghị quyết số 402/NQ-HĐND ngày 28/6/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thí điểm cơ chế phân cấp cho cấp huyện trong quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2024-2025 tỉnh Hoà Bình; văn bản số 1202/UBND-KTN ngày 25/7/2024, văn bản số 1564/UBND-KTTH ngày 10/9/2024 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc hướng dẫn triển khai thực hiện cơ chế thí điểm phân cấp cho cấp huyện trong quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2024-2025….
Ban Dân tộc đề nghị các Sở, Ban, Ngành của tỉnh và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố quan tâm chỉ đạo thực hiện./.
Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp Hoà Bình

SỞ TƯ PHÁP TỈNH HOÀ BÌNH: Thực hiện Kế hoạch 168/KH-UBND ngày 08/8/2024 về Kế hoạch thực hiện Ngày pháp luật 2024, Công ...
05/11/2024

SỞ TƯ PHÁP TỈNH HOÀ BÌNH: Thực hiện Kế hoạch 168/KH-UBND ngày 08/8/2024 về Kế hoạch thực hiện Ngày pháp luật 2024, Công văn số 6962/HĐPH ngày 28/10/2024 về tổ chức hưởng ứng ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam năm 2024.
Dưới đây là các mẫu pano phục vụ hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam do Bộ Tư pháp thiết kế.

05/11/2024
SỞ TƯ PHÁP TỈNH HÒA BÌNH: THĂM HỎI, TRI ÂN CÁC ĐỒNG CHÍ NGUYÊN LÃNH ĐẠO SỞ NHÂN DỊP KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀ...
28/08/2024

SỞ TƯ PHÁP TỈNH HÒA BÌNH:

THĂM HỎI, TRI ÂN CÁC ĐỒNG CHÍ NGUYÊN LÃNH ĐẠO SỞ NHÂN DỊP KỶ NIỆM 79 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TƯ PHÁP

Thiết thực chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày truyền thống Ngành Tư pháp (28/8/1945 – 28/8/2024), Sáng ngày 28/8/2024, đồng chí Bùi Thị Thúy Bình, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở và đồng chí Nguyễn Văn Sáu, Phó giám đốc Sở cùng các đồng chí lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc Sở đến thăm hỏi, tặng quà, tri ân các đồng chí Hà Văn Chuẩn, Quách Đình Minh nguyên lãnh đạo Sở Tư pháp qua các thời kỳ.
Tại các nơi đến, đoàn đã ân cần thăm hỏi sức khỏe các đồng chí nguyên Lãnh đạo Sở các thời kỳ, cùng ôn lại truyền thống của Ngành. Đoàn đã báo cáo với các đồng chí về tình hình tổ chức hoạt động, kết quả thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao của Ngành, đặc biệt là sự tin tưởng của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã giao nhiều nhiệm vụ mới, quan trọng cho Ngành trong việc tham mưu, giúp việc cho cấp ủy và chính quyền địa phương.

Các đồng chí nguyên Lãnh đạo Sở bày tỏ sự vui mừng đối với những kết quả mà Ngành Tư pháp tỉnh Hòa Bình đã đạt được trong thời gian qua, đồng thời gửi gắm những tình cảm, niềm tin đối với thế hệ hôm nay và tiếp tục phát huy tốt hơn truyền thống, khẳng định uy tín, đoàn kết xây dựng Ngành ngày càng phát triển.

Thay mặt Đảng ủy, Lãnh đạo cùng toàn thể công chức, viên chức, người lao động trong Ngành, đồng chí Bùi Thị Thuý Bình đã gửi lời cảm ơn, trao những bó hoa tươi thắm bày tỏ sự trân trọng những đóng góp, cống hiến hy sinh của các đồng chí nguyên Lãnh đạo Sở, đồng thời mong muốn các đồng chí sẽ tiếp tục truyền đạt kinh nghiệm, luôn là tấm gương sáng cho thế hệ tuổi trẻ ngành Tư pháp tỉnh Hòa Bình hôm nay học tập và noi theo, xây dựng Ngành ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao./.
Nguồn: Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp Hoà Bình

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2024Một số Nghị định mới của Chính phủ quy định về đất đai, nhà ở và thị trường bấ...
14/08/2024

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 8/2024

Một số Nghị định mới của Chính phủ quy định về đất đai, nhà ở và thị trường bất động sản... trong đó có quy định hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sẽ có hiệu lực từ tháng 8/2024, bao gồm những nội dung sau đây:
1. Chính phủ ban hành Nghị định mới về giá đất
Nghị định số 71/2024/NĐ-CP ngày 27/6/2024 của Chính phủ quy định về giá đất, có hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật Đất đai số 31/2024/QH15 có hiệu lực thi hành (ngày 1/8/2024).
Nghị định 71/2024/NĐ-CP quy định cụ thể trình tự, nội dung xác định giá đất theo 4 phương pháp gồm so sánh, thu nhập, thặng dư, hệ số điều chỉnh giá đất.
2. Quy định mới về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 13/7/2024 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; có hiệu lực từ 01/8/2024.
Trong đó, Nghị định số 88/2024/NĐ-CP quy định việc bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 1, Điều 96, khoản 1, Điều 98, khoản 1, Điều 99 của Luật Đất đai.
Theo quy định giá đất tính tiền sử dụng đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi cho hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sử dụng đất ở, đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam là giá đất được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Trường hợp bồi thường bằng cho thuê đất thu tiền thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì giá đất tính tiền thuê đất là giá đất cụ thể do UBND cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi cho tổ chức kinh tế có đất ở thu hồi là giá đất cụ thể do UBND cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
3. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà ở và thị trường bất động sản
Nghị định số 94/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản về xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản, có hiệu lực từ ngày 1/8/2024.
Nghị định nêu rõ, cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản được xây dựng phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, kiến trúc chính quyền điện tử ở địa phương. Việc chia sẻ dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản giữa các bộ, ngành có liên quan và địa phương phục vụ quản lý nhà nước và giải quyết thủ tục hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu số của cơ quan nhà nước và pháp luật về giao dịch điện tử.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản được thực hiện theo quy định về: Thu thập thông tin, dữ liệu; chia sẻ, cung cấp thông tin, dữ liệu; tiếp nhận và xử lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu; thời hạn chia sẻ, cung cấp thông tin, dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản.
4. Quy định mới về xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ
Chính phủ đã ban hành Nghị định 95/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở 2023.
Trong đó, Nghị định quy định việc xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ được thực hiện như sau:
Trường hợp xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ để cho thuê, để bán hoặc kết hợp bán, cho thuê, cho thuê mua hoặc có quy mô từ 20 căn hộ trở lên để cho thuê thì phải thực hiện thủ tục đầu tư xây dựng dự án nhà ở theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên quan;
Trường hợp xây dựng nhà ở nhiều tầng nhiều căn hộ mà có quy mô dưới 20 căn hộ để cho thuê thì việc xây dựng nhà ở này phải thực hiện theo quy định về xây dựng nhà ở riêng lẻ của cá nhân, bao gồm yêu cầu về thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng, cấp Giấy phép xây dựng, quản lý, giám sát thi công xây dựng và các yêu cầu về an toàn phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật.
Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/8/2024.
5. Quy định mới về điều kiện hoạt động của sàn giao dịch bất động sản
Chính phủ ban hành Nghị định 96/2024/NĐ-CP ngày 24/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 1/8/2024.
Nghị định nêu rõ sàn giao dịch bất động sản hoạt động phải đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 55 Luật Kinh doanh bất động sản.
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản phải chịu trách nhiệm về hoạt động của sàn giao dịch bất động sản. Người đại diện theo pháp luật của sàn giao dịch bất động sản có thể đồng thời là người quản lý điều hành sàn giao dịch bất động sản.
Sàn giao dịch bất động sản phải có tên, địa chỉ giao dịch ổn định trên 12 tháng và trang thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu theo nội dung hoạt động của sàn giao dịch bất động sản.
Sàn giao dịch bất động sản có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng chống rửa tiền, báo cáo về phòng chống rửa tiền theo quy định của pháp luật về phòng chống rửa tiền.
6. Các trường hợp di dời khẩn cấp nhà chung cư
Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2024/NĐ-CP ngày 25/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư.
Trong đó, Nghị định quy định các trường hợp di dời khẩn cấp nhà chung cư bao gồm: Nhà chung cư bị hư hỏng do cháy, nổ không còn đủ điều kiện bảo đảm an toàn để tiếp tục sử dụng; nhà chung cư bị hư hỏng do thiên tai, địch họa không còn đủ điều kiện bảo đảm an toàn để tiếp tục sử dụng.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/8/2024.
7. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu không quá 03 ngày làm việc
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 quy định về điều tra cơ bản đất đai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai.
Theo Nghị định, thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất như sau:
Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu là không quá 20 ngày làm việc; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu là không quá 03 ngày làm việc.
Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 1/8/2024.
8. Quy định hỗ trợ đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Chính phủ ban hành Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Nghị định có hiệu lực thi hành từ 1/8/2024.
Nghị định nêu rõ, việc hỗ trợ đất đai đối với cá nhân là người dân tộc thiểu số quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Đất đai thực hiện như sau:
- Đối với trường hợp không còn đất ở thì được giao đất ở hoặc được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở; người sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Trường hợp thiếu đất ở so với hạn mức giao đất ở thì được chuyển mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở và được miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức giao đất ở.
- Đối với trường hợp không còn đất nông nghiệp hoặc diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng không đủ 50% diện tích đất so với hạn mức giao đất nông nghiệp của địa phương thì được giao tiếp đất nông nghiệp trong hạn mức.

Nguồn trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Hòa Binh

Luật quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự 2023: khắc phục hạn chế để đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc tron...
23/07/2024

Luật quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự 2023: khắc phục hạn chế để đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới

Quốc hội thông qua Luật quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự. Luật quy định rõ quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt... Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2025.

Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự 2023 mới được công bố gồm 6 chương, 34 điều. Luật này được đánh giá đã khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự năm 1994. Đồng thời, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
So với Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự năm 1994, Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự 2023 có những điểm mới như sau:
1. Hoàn thiện quy định về công trình lưỡng dụng
Theo Điều 7 của Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự quy định:
Một, công trình lưỡng dụng là công trình sử dụng cho cả mục đích quân sự, quốc phòng và mục đích dân sự, gồm công trình dân sự có tính lưỡng dụng và công trình quốc phòng sử dụng lưỡng dụng, được cấp có thẩm quyền quyết định khi phê duyệt chủ trương đầu tư hoặc chuyển đổi, bổ sung mục đích sử dụng.
Hai, cơ quan chủ trì thẩm định chủ trương đầu tư, dự án công trình dân sự có tính lưỡng dụng có trách nhiệm lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng về tính lưỡng dụng của công trình trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Ba, chủ đầu tư, chủ sở hữu công trình lưỡng dựng có trách nhiệm cung cấp hồ sơ thiết kế, hoàn công và phối hợp với các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng để đăng ký danh mục, phân loại, phân nhóm, quản lý hồ sơ theo quy định của Bộ Quốc phòng.
Bốn, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có liên quan trình Thủ tướng Chính phủ quyết định sử dụng, bãi bỏ sử dụng lưỡng dụng đối với công trình quốc phòng.
Năm, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định có thời hạn việc chuyển công trình lưỡng dụng từ sử dụng cho mục đích dân sự sang sử dụng cho mục đích quân sự trong trường hợp cấp bách để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
Sáu, việc quản lý, bảo vệ công trình lưỡng dụng được quy định như sau:
Công trình lưỡng dụng khi sử dụng cho mục đích dân sự được quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật có liên quan và được lập hồ sơ quản lý, thống kê, kiểm kê công trình theo quy định tại Điều 10 và Điều 14 của Luật này;
Công trình lưỡng dụng khi sử dụng cho mục đích quân sự, quốc phòng được quản lý, bảo vệ theo quy định của Luật này;
Trường hợp công trình lưỡng dụng sử dụng đồng thời cho cả mục đích quân sự, quốc phòng và mục đích dân sự thì chủ sở hữu công trình có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan tổ chức việc quản lý, bảo vệ công trình theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;
Việc cải tạo, sửa chữa công trình dân sự có tính lưỡng dụng làm thay đổi công năng sử dụng cho mục đích quân sự, quốc phòng phải có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng.
Bảy, việc thay đổi chủ sở hữu hoặc đưa công trình dân sự có tính lưỡng dụng ra khỏi danh mục công trình lưỡng dụng phải có ý kiến thống nhất của Bộ Quốc phòng và được phép của cấp có thẩm quyền.
Tám, nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, xây dựng công trình lưỡng dụng, chuyển đổi mục đích sử dụng công trình dân sự sang công trình lưỡng dụng.

2. Quy định rõ thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng
Về chuyển đổi mục đích sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự đực quy định rõ ràng tại Điều 12 của Luật này.
Theo Điều 12: Chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự:
Một, việc chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự phải không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo đảm bí mật nhà nước; phù hợp với quy hoạch hệ thống công trình quốc phòng, khu quân sự được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Hai, các trường hợp công trình quốc phòng và khu quân sự được chuyển mục đích sử dụng, bao gồm:
Chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự do Bộ Quốc phòng quản lý theo yêu cầu nhiệm vụ quân sự, quốc phòng;
Không còn nhu cầu sử dụng cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng cần chuyển mục đích sử dụng để phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ nhu cầu dân sinh;
Còn nhu cầu sử dụng cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng nhưng nằm trong phạm vi thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được Bộ Quốc phòng thống nhất bằng văn bản về chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự trong quá trình phê duyệt chủ trương đầu tư dự án.
Ba, thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự được quy định như sau:
Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự sang mục đích khác đối với trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này, đồng thời xem xét, chấp thuận việc thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với diện tích đất có công trình quốc phòng, khu quân sự được chuyển sang mục đích khác;
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.
Bốn, trường hợp chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều này được thực hiện như sau: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí quỹ đất để thiết lập khu quân sự ở vị trí mới phù hợp với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; Cơ quan, tổ chức, chủ đầu tư thực hiện dự án phải thực hiện bồi thường, hỗ trợ để xây dựng công trình quốc phòng, thiết lập khu quân sự ở vị trí mới, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Năm, các trường hợp chuyển mục đích sử dụng công trình quốc phòng, khu quân sự có gắn với thu hồi đất quốc phòng thì việc bồi thường, hỗ trợ thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
Sáu, Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

3. Quy định tiêu chuẩn người làm công tác bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự
Theo Điều 20 Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự 2023 quy định lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự như sau:
Một, lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, bao gồm: Lực lượng của Bộ Quốc phòng làm nòng cốt; Lực lượng của Bộ Công an phối hợp tham gia bảo vệ; Lực lượng bảo vệ của Ban, Bộ, ngành, địa phương được giao quản lý, sử dụng, bảo vệ công trình quốc phòng.
Hai, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định lực lượng bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, bao gồm: Lực lượng chuyên trách bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự Nhóm đặc biệt và các công trình quốc phòng Nhóm I loại A không niêm cất, lấp phủ; Lực lượng bảo vệ của đơn vị đóng quân trực tiếp quản lý, sử dụng công trình quốc phòng và khu quân sự; Lực lượng thuộc cơ quan quân sự địa phương và Dân quân tự vệ bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự được giao quản lý, sử dụng trên địa bàn.
Ba, người đứng đầu Ban, Bộ, ngành trung ương có trách nhiệm tổ chức lực lượng thuộc phạm vi quản lý để bảo vệ công trình sơ tán thời chiến của cơ quan mình; trường hợp không tổ chức được lực lượng bảo vệ thì bàn giao công trình cho Bộ Quốc phòng để bố trí lực lượng thuộc cơ quan quân sự địa phương trực tiếp bảo vệ; khi cần sử dụng, Bộ Quốc phòng giao lại cho Ban, Bộ, ngành trung ương bảo vệ theo quy định của Luật này.
Bốn, tiêu chuẩn người làm công tác bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự được quy định như sau: Là công dân Việt Nam làm việc trong cơ quan, đơn vị, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự; Có đủ tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, lý lịch rõ ràng; chấp hành nghiêm chính sách, pháp luật của Nhà nước; Đủ sức khoẻ bảo đảm thực hiện nhiệm vụ; Được huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao./
Nguồn trang thông tin điện tử Sở Tư pháp tỉnh Hòa Bình

Address

Số 566, Đường Trần Hưng Đạo, Tp Hòa Bình
Hòa Bình

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trang Phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Hòa Bình posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category