Công an xã Tơ Tung

Công an xã Tơ Tung SĐT: 0869.545.295

Trang thông tin Fanpage chính thức của Công an xã Tơ Tung, tỉnh Gia Lai; tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm; tuyên truyền pháp luật và các hoạt động đảm bảo ANTT; các hình ảnh đẹp của lực lượng CAND.

🚨 TỪ NGÀY 15/8/2026: NHIỀU LỖI GIAO THÔNG ĐƯỢC BỔ SUNG MỨC XỬ LÝ MỚITheo Nghị định 238/2026/NĐ-CP, một số hành vi liên q...
19/08/2026

🚨 TỪ NGÀY 15/8/2026: NHIỀU LỖI GIAO THÔNG ĐƯỢC BỔ SUNG MỨC XỬ LÝ MỚI
Theo Nghị định 238/2026/NĐ-CP, một số hành vi liên quan đến vận tải hành khách, biển số xe và an toàn trẻ em được bổ sung hoặc làm rõ:
1️⃣ Ô tô biển trắng chở khách thu tiền: phạt 12–14 triệu đồng, trừ 6 điểm GPLX.
2️⃣ Chở trẻ dưới 10 tuổi và cao dưới 1,35 m nhưng không sử dụng thiết bị an toàn phù hợp: cảnh cáo; không áp dụng với ô tô kinh doanh vận tải hành khách.
3️⃣ Cho trẻ dưới 10 tuổi và cao dưới 1,35 m ngồi cùng hàng ghế với người lái: phạt 800.000–1 triệu đồng, trừ ô tô chỉ có một hàng ghế.
4️⃣ Làm lóa hoặc can thiệp biển số: ô tô phạt 20–26 triệu đồng; xe máy phạt 4–6 triệu đồng.
5️⃣ Xe hợp đồng chở khách ngoài danh sách: phạt 1–2 triệu đồng.
6️⃣ Chở vật liệu làm rơi vãi xuống đường: phạt 2–4 triệu đồng.
7️⃣ Không lắp camera hoặc camera không hoạt động: mức phạt tùy thuộc người lái, chủ xe cá nhân hoặc tổ chức.
📌 Người dân và đơn vị vận tải cần chủ động kiểm tra phương tiện, thiết bị và điều kiện kinh doanh để tránh vi phạm.

Nguồn: Nghị định 238/2026/NĐ-CP

17/08/2026

Tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế

Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cụ thể, kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối, như đất đai, tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược, thiết yếu để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, điều tiết và dẫn dắt nền kinh tế, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trong đó: Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược; Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh; Góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Mục tiêu cụ thể về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.

Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỷ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Để thực hiện thành công các mục tiêu và tầm nhìn về phát triển kinh tế Nhà nước Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp chung.

Thứ nhất, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; nâng cao trách nhiệm, hành động quyết liệt, hiệu quả với tinh thần "nói ít, làm nhiều, làm đến cùng" nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nhà nước.

Thứ hai là hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Thứ ba là bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; đẩy mạnh hợp tác công - tư; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình; giảm giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm.

Thứ tư là chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 71, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch.

Thứ năm là xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.

Các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể từng lĩnh vực

Nghị quyết cũng nêu ra các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. Một là, đối với đất đai và tài nguyên: Để khắc phục những hạn chế hiện nay, Nghị quyết đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; kinh tế biển; nguồn lợi vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp; không gian ngầm; tài nguyên số và tài nguyên viễn thông.

Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: trên cơ sở xác định rõ những vấn đề cần khắc phục về thể chế cho phát triển hạ tầng, Nghị quyết yêu cầu thực hiện 2 nhóm nhiệm vụ chính: Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. Cùng với đó, bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.

Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống.

Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; Cải thiện quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Năm là, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước.

Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng. Cùng với đó, đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.






17/08/2026

Chuyên gia nhận định: “Đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là tuyến vận tải mới”

Theo ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam không chỉ là câu chuyện về một tuyến vận tải mới, mà còn đặt ra câu hỏi Việt Nam muốn phát triển như thế nào trong vài thập niên tới.
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị triển khai đường sắt cao tốc Bắc - Nam, ông TC Chew, Tổng giám đốc Arup khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (đơn vị tham gia rà soát Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án và các chương trình đường sắt cao tốc quốc tế), cho rằng Việt Nam cần trả lời câu hỏi mong muốn kết nối các đô thị lớn ra sao, mở ra những hành lang kinh tế mới như thế nào và hướng tới mô hình tăng trưởng hiệu quả, phát thải thấp hơn ra sao.

Tuy nhiên, các dự án quy mô lớn không thể thành công chỉ nhờ tham vọng. Dựa trên kinh nghiệm quốc tế trong các dự án như Đường sắt cao tốc California (California High-Speed Rail) và High Speed 1 tại Vương quốc Anh, Arup nhận thấy rằng đường sắt cao tốc chỉ phát huy hiệu quả khi được nhìn nhận như một chiến lược phát triển quốc gia dài hạn, thay vì một công trình mang tính biểu tượng.

Với Việt Nam, vấn đề không chỉ là có nên đầu tư đường sắt cao tốc hay không, mà là liệu những nền móng cần thiết đã được chuẩn bị từ hôm nay để dự án vận hành hiệu quả, khả thi về tài chính và tạo giá trị bền vững hay chưa.

Theo ông TC Chew, lý do để đầu tư đường sắt cao tốc không dừng ở việc rút ngắn thời gian di chuyển. Một tuyến kết nối Hà Nội với TPHCM, đi qua các trung tâm tỉnh thành trọng yếu, có thể mở rộng cơ hội tiếp cận việc làm, thúc đẩy du lịch, giảm trở ngại trong di chuyển và hỗ trợ mô hình phát triển cân bằng hơn giữa các vùng.

Ông chia sẻ, thành công của tham vọng phát triển đường sắt tại Việt Nam sẽ phụ thuộc không chỉ vào tốc độ vận hành của tuyến đường sắt cao tốc, mà còn vào việc các đô thị được quy hoạch, kết nối và phát triển như thế nào dọc theo hành lang tuyến.

Nhìn từ góc độ này, bài toán vốn cũng cần được nhìn nhận rộng hơn. Chi phí đầu tư ban đầu chắc chắn rất lớn, nhưng giá trị dài hạn của đường sắt cao tốc không chỉ nằm ở doanh thu vé, mà còn ở khả năng nâng giá trị đất đai, thu hút đầu tư, tái định hình không gian quanh nhà ga và mở rộng tiếp cận việc làm, dịch vụ.

Vì vậy, theo ông TC Chew phát triển đô thị định hướng giao thông công cộng (TOD – Transit-oriented development) cần được tính toán từ đầu, với các nhà ga được quy hoạch thành những trung tâm đô thị tích hợp, nơi nhà ở, thương mại, không gian công cộng và các phương thức di chuyển kết nối với nhau. Làm tốt, cách tiếp cận này có thể vừa cải thiện hiệu quả tài chính, vừa nâng chất lượng đô thị.

Một tuyến đường sắt cao tốc chỉ phát huy tốt khi toàn bộ hành trình được kết nối liền mạch. Vì vậy, quy hoạch quanh ga cần tính đến yếu tố liên thông từ đầu. Nếu hành khách xuống tàu phải đối mặt với ùn tắc, giao thông công cộng hạn chế hoặc chặng cuối kéo dài, lợi ích của tuyến đường sẽ bị suy giảm, ông TC Chew chỉ rõ.

Ông nhấn mạnh quy hoạch nhà ga cần gắn chặt với mạng lưới metro, xe buýt, sân bay và định hướng phát triển các khu vực lân cận, tạo ra một hành trình liền mạch từ điểm khởi hành đến điểm đến cuối cùng.

Để hiện thực hóa điều đó, năng lực tổ chức thực hiện quan trọng không kém tham vọng kỹ thuật. Các chương trình đường sắt quy mô lớn phụ thuộc vào chất lượng quản trị, phương thức mua sắm và khả năng triển khai, từ phân chia gói thầu, phân bổ rủi ro, quy trình phê duyệt và thứ tự triển khai. Vì vậy, chương trình cần mô hình triển khai rõ ràng, lộ trình phân kỳ thực tế và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương.

Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng lớn cũng tạo cơ hội nâng cao năng lực nội tại của quốc gia, từ củng cố năng lực kỹ thuật, năng lực về công nghệ và các hệ thống số, năng lực quản lý vận hành, kỹ năng thi công chuyên biệt và chuỗi cung ứng trong nước. Điều này đòi hỏi kế hoạch phát triển nhân lực dài hạn, sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp, cùng các hợp đồng thực sự tạo điều kiện cho chuyển giao tri thức.

Niềm tin của công chúng là điều kiện quan trọng để dự án quy mô lớn nhận được sự ủng hộ trong dài hạn. Vì vậy, ông TC Chew nhấn mạnh cần minh bạch về phương án tuyến, công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư, tổng mức đầu tư, tiến độ và những lợi ích kỳ vọng, giúp người dân hiểu tác động của dự án tới khả năng di chuyển, tiếp cận và cơ hội kinh tế.





17/08/2026

Quảng Ninh - Hạ tầng chiến lược mở không gian phát triển mới

Trong chiến lược phát triển giai đoạn 2026-2030, Quảng Ninh xác định đầu tư kết cấu hạ tầng là một trong ba đột phá chiến lược, tạo nền tảng mở rộng không gian phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Những tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về giải phóng mặt bằng (GPMB), thủ tục đầu tư và nguồn lực triển khai, tỉnh vẫn tập trung tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy các dự án giao thông, cảng biển và hạ tầng kinh tế trọng điểm, qua đó tạo thêm dư địa để thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 13% trong năm 2026.

Trong nhiều năm qua, Quảng Ninh dành ưu tiên cao cho phát triển kết cấu hạ tầng, coi đây không chỉ là điều kiện nâng cao khả năng kết nối vùng, thu hút đầu tư mà còn là yếu tố quan trọng để hình thành các động lực tăng trưởng mới. Kết quả đầu tư những tháng đầu năm 2026 tiếp tục cho thấy định hướng này. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 61.300 tỷ đồng, tăng 16,4%, qua đó tạo nền tảng để tỉnh phấn đấu hoàn thành mục tiêu cả năm tăng 13%. Điểm đáng chú ý là nguồn lực đang được tập trung vào các công trình có tính chất động lực, có khả năng tạo tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội trong dài hạn. Nhiều dự án giao thông, cảng biển, logistics và hạ tầng kinh tế trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, đồng thời các vướng mắc về thủ tục, GPMB, vật liệu và nguồn lực đầu tư được tập trung tháo gỡ.

Trong nhóm dự án ngoài ngân sách, Bến cảng tổng hợp Vạn Ninh (giai đoạn 1) đang được tỉnh đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, các sở, ngành, Ban Quản lý Khu kinh tế và UBND phường Móng Cái 2 liên tục kiểm tra hiện trường, hướng dẫn chủ đầu tư hoàn thiện các thủ tục, đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn liên quan đến nguồn vật liệu san lấp và tiến độ thi công. Ban Quản lý Khu kinh tế đã yêu cầu chủ đầu tư rà soát tổng thể tiến độ, xây dựng kế hoạch chi tiết và cam kết hoàn thành toàn bộ dự án trong tháng 12/2026.

Cùng với Vạn Ninh, Bến cảng tổng hợp Con Ong - Hòn Nét được xác định là dự án có ý nghĩa quan trọng trong định hướng phát triển hệ thống cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Theo Quyết định số 860/QĐ-BXD ngày 19/6/2025 của Bộ Xây dựng, khu bến được quy hoạch phát triển thành khu bến cảng tổng hợp, container và hàng rời, gồm 2 cầu cảng, công suất khoảng 4,5-6 triệu tấn/năm vào năm 2030, hướng tới hình thành cảng trung chuyển quốc tế phía Bắc. Tuy nhiên, do yêu cầu về quy mô đầu tư, hạ tầng kết nối và nguồn lực rất lớn, đến nay dự án chưa lựa chọn được nhà đầu tư. Trước thực tế này, Quảng Ninh đang chủ động tìm kiếm các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn của dự án, trong đó phối hợp với Viện Hàng hải Đông Bắc (Hoa Kỳ) nghiên cứu định hướng phát triển hạ tầng cảng biển; đồng thời đề xuất Bộ Xây dựng hỗ trợ đầu tư nạo vét luồng Cẩm Phả vào khu vực cảng Hòn Nét - Con Ong.

Việc tháo gỡ từng điểm nghẽn, chuẩn bị đồng bộ về hạ tầng kết nối và điều kiện khai thác được kỳ vọng sẽ tạo thêm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư chiến lược, từng bước phát huy lợi thế về vị trí cửa ngõ, cảng biển và logistics của Quảng Ninh. Qua đó, những công trình hạ tầng trọng điểm không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại mà còn góp phần mở rộng không gian kinh tế, tạo thêm động lực tăng trưởng cho tỉnh trong giai đoạn 2026-2030.

Song hành với việc đầu tư vào các công trình hạ tầng lớn, Quảng Ninh đang chú trọng nâng cấp, hoàn thiện hệ thống luồng hàng hải, qua đó nâng cao năng lực khai thác cảng biển và kết nối logistics. Các dự án nâng cấp tuyến luồng sông Chanh, duy tu luồng Cẩm Phả và luồng Hòn G*i - Cái Lân đã được Bộ Xây dựng đưa vào danh mục rà soát kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030. Hiện Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang triển khai các thủ tục để thực hiện nạo vét, duy tu các tuyến luồng trong năm 2026 và đầu năm 2027.

Đáng chú ý, các dự án hạ tầng đang được triển khai có sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống quy hoạch chiến lược được tỉnh công bố ngày 30/6/2026, gồm: Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Quảng Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch chung đô thị Quảng Ninh; Quy hoạch Khu kinh tế ven biển Quảng Yên và Quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn. Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh tổ chức lại không gian phát triển, mở rộng các khu vực đô thị, công nghiệp, logistics và kinh tế biển theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Đặc biệt, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất bổ sung tuyến cao tốc kết nối cao tốc Hải Phòng - Hạ Long với đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội. Nếu được đầu tư, tuyến kết nối này sẽ mở thêm hướng liên kết giữa Quảng Ninh với vùng thủ đô và các trung tâm kinh tế lớn phía Bắc, qua đó tạo điều kiện mở rộng không gian phát triển công nghiệp, logistics, thương mại và đô thị.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, mỗi công trình hạ tầng hoàn thành không chỉ giải quyết nhu cầu giao thông, vận tải trước mắt mà còn tạo ra những không gian phát triển mới. Cao tốc mở rộng khả năng kết nối và thu hút đầu tư; cảng biển nâng cao năng lực xuất nhập khẩu; các khu công nghiệp tạo thêm mặt bằng cho sản xuất; trong khi hệ thống logistics đồng bộ giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực.

Trên nền tảng đó, thời gian tới, Quảng Ninh tiếp tục ưu tiên nguồn lực cho các công trình động lực; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục đầu tư, GPMB; nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trong thực hiện cam kết tiến độ. Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, tỉnh chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để kịp thời tháo gỡ. Cùng với đó, đẩy mạnh xúc tiến, thu hút các nhà đầu tư chiến lược vào lĩnh vực hạ tầng, cảng biển và logistics, từng bước biến lợi thế về vị trí, kết nối và kinh tế biển thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng mới, tạo nền tảng cho Quảng Ninh phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.





Việt Nam – New Zealand thúc đẩy hợp tác an ninhNhân dịp tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu c...
14/08/2026

Việt Nam – New Zealand thúc đẩy hợp tác an ninh

Nhân dịp tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới New Zealand, chiều 13/8 (theo giờ địa phương), tại thành phố Auckland, Đại tướng Lương Tam Quang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an đã hội đàm với bà Casey Costello, Bộ trưởng Hải quan, Bộ trưởng phụ trách người cao tuổi, đồng Bộ trưởng phụ trách một số lĩnh vực Cảnh sát, Di trú và Y tế New Zealand và Bộ trưởng Cảnh sát New Zealand Mark Mitchell.

Tại hội đàm, hai bên nhất trí phối hợp điều tra các vụ án, vụ việc có tính chất xuyên quốc gia, truy bắt các đối tượng truy nã quốc tế qua kênh hợp tác song phương hoặc trong khuôn khổ Interpol khi có yêu cầu; giải quyết kịp thời các đề nghị xác minh tội phạm của nhau; hai bên thúc đẩy đàm phán, ký kết các Thỏa thuận, Bản ghi nhớ nhằm tạo hành lang pháp lý hợp tác, đặc biệt trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm và đào tạo, nâng cao năng lực điều tra và truy vết tội phạm trên không gian mạng; tăng cường trao đổi đoàn các cấp.

Hai bên nhất trí thiết lập cơ chế "Đối thoại an ninh cấp Thứ trưởng" nhằm chia sẻ thông tin, kinh nghiệm ứng phó với các đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; hai bên ủng hộ lập trường, quan điểm của nhau trên các diễn đàn, cơ chế an ninh và thực thi pháp luật quốc tế mà hai nước là thành viên. Hai bên nhấn mạnh kiên quyết không cho phép bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào lợi dụng địa bàn của nước này để hoạt động tội phạm xâm hại an ninh, trật tự nước kia…

Kết thúc hội đàm, hai Bộ trưởng đã trao “ Tuyên bố chung về thiết lập Đối thoại an ninh Việt Nam - New Zealand”.

Trí Trung

Báo CAND








Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới New ZealandHai bên nhất trí tiếp tục củng cố tin...
14/08/2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand

Hai bên nhất trí tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, phát triển toàn diện quan hệ hai nước qua tăng trao đổi, tiếp xúc cấp cao và các cấp, trên cả kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và giao lưu nhân dân.

Tối 13/8 (giờ địa phương), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời thành phố Auckland (New Zealand) kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước tới New Zealand, theo lời mời của Toàn quyền New Zealand Dame Cindy Kiro.

Tiễn đoàn tại sân bay quốc tế Auckland có Bộ trưởng Thương mại và Đầu tư Todd McClay; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại Grahame Morton; Vụ trưởng Vụ Nam Á và Đông Nam Á, Bộ Ngoại giao và Thương mại New Zealand Susannah Gordon; Trưởng Lễ tân, Bộ Ngoại giao và Thương mại New Zealand Sarah Walsh; Đại sứ New Zealand tại Việt Nam Caroline Beresford.

Về phía Việt Nam có Đại sứ Việt Nam tại New Zealand Phan Minh Giang và Phu nhân cùng một số cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại New Zealand.

Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội kiến Toàn quyền New Zealand Dame Cindy Kiro; hội đàm với Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon; hội kiến Chủ tịch Quốc hội New Zealand Gerry Brownlee; chứng kiến lễ trao văn kiện hợp tác và gặp gỡ báo chí; dự và phát biểu tại Hội nghị bàn tròn doanh nghiệp New Zealand-Việt Nam và Diễn đàn Giáo dục đại học và Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-New Zealand…

Tại các cuộc tiếp xúc, hai bên cùng nhìn lại những thành tựu đạt được trong quan hệ song phương kể từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vào năm 2025. Hai bên nhất trí tiếp tục củng cố tin cậy chính trị, phát triển toàn diện quan hệ hai nước thông qua việc tăng cường trao đổi, tiếp xúc cấp cao và các cấp, trên cả kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và giao lưu nhân dân, qua đó phát huy hiệu quả các cơ chế trao đổi chính sách.

Thủ tướng Christopher Luxon khẳng định New Zealand sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác trong lĩnh vực thương mại-đầu tư, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp 2 nước có những cơ hội hợp tác, đầu tư vào nhau.

Đánh giá cao sự hỗ trợ thiết thực, hiệu quả của Chính phủ New Zealand dành cho Việt Nam trong nhiều năm qua, nhất là trong các lĩnh vực nông nghiệp, môi trường, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bày tỏ mong muốn tiếp tục đồng hành trong xây dựng nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao giá trị gia tăng cho nông sản; xây dựng các mô hình hợp tác tiêu biểu về nông nghiệp bền vững.

Hai bên nhất trí đưa giáo dục, du lịch, kết nối và giao lưu nhân dân trở thành động lực quan trọng của quan hệ song phương. Theo đó, hai bên sẽ mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có trình độ, chuyên môn và kỹ năng đáp ứng giai đoạn phát triển mới; thúc đẩy các hãng hàng không của hai nước sớm mở đường bay thẳng để thu hẹp khoảng cách địa lý giữa hai nước, góp phần mở ra nhiều cơ hội giao lưu nhân dân, hợp tác mới, thực chất hơn và toàn diện hơn.

Hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác hơn nữa trong các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm trên các diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc. Hai bên cũng tái khẳng định tầm quan trọng của việc thượng tôn pháp luật quốc tế ở khu vực và giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Cũng trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon đã chứng kiến trao các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành hai nước. Các văn kiện gồm Thỏa thuận thực thi về Hợp tác gìn giữ hòa bình giữa Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Quốc phòng New Zealand và Lực lượng Quốc phòng New Zealand; Thỏa thuận hợp tác giáo dục giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục New Zealand; Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Bộ Các ngành cơ bản New Zealand; Gói thỏa thuận về tiếp cận thị trường giữa Bộ Các ngành cơ bản New Zealand và Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam; Thư về các khoản tài trợ được công bố: Sáng kiến CGIAR Asian Mega Deltas; Sáng kiến Nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu ASEAN.

Nhân dịp này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Toàn quyền New Zealand cùng thăm triển lãm các tác phẩm của nhiếp ảnh gia nổi tiếng Fiona Pardington tại phòng triển lãm nghệ thuật đương đại Starkwhite. Đây là hoạt động giao lưu văn hóa ý nghĩa trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước, góp phần tăng cường hiểu biết về văn hóa, lịch sử và con người New Zealand, đồng thời thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo hai nước đối với giao lưu văn hóa, nghệ thuật và kết nối nhân dân - một trong những nền tảng quan trọng của quan hệ hữu nghị Việt Nam-New Zealand.

Theo TTXVN








Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước AustraliaTheo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn qu...
12/08/2026

Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước Australia

Theo đặc phái viên TTXVN, sáng 11/8, tại Phủ Toàn quyền Australia, thủ đô Canberra, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã chủ trì Lễ đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm cấp Nhà nước tới Australia từ ngày 9 đến ngày 12/8.

Tham dự lễ đón có nhiều quan chức cao cấp Australia và các thành viên Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.

Khi đoàn xe chở Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiến vào Phủ Toàn quyền, trong không khí nồng ấm, thắm tình hữu nghị, Toàn quyền Australia Sam Mostyn đã vui mừng đón Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại nơi đỗ xe, cùng lúc đó 21 loạt đại bác lần lượt vang lên chào mừng.

Toàn quyền Australia Sam Mostyn mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bước lên bục danh dự. Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam. Đội trưởng Đội danh dự trân trọng mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc Australia. Sau khi duyệt Đội danh dự và Đội quân nhạc, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng giới thiệu cho nhau về thành phần đoàn hai bên tham dự lễ đón.

Tiếp đó, Toàn quyền Australia Sam Mostyn và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng đứng lên bục danh dự. Trong không khí trang nghiêm, Đội quân nhạc cử Quốc thiều Việt Nam và Quốc thiều Australia.

Sau lễ đón, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội kiến Toàn quyền Australia Sam Mostyn và tiến hành hội đàm với Thủ tướng Australia Anthony Albanese; chứng kiến lễ trao các văn kiện hợp tác và gặp gỡ báo chí; hội kiến Chủ tịch Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện Australia…

Việt Nam và Australia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 26/2/1973. Kể từ đó đến nay, hai nước đã xây dựng một mối quan hệ mạnh mẽ và bền bỉ với lợi ích đa dạng và ngày càng tăng. Hiện nay, Việt Nam được coi là một trong những đối tác song phương quan trọng nhất của Australia.

Quan hệ Việt Nam-Australia đang ở giai đoạn phát triển năng động nhất kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện.

Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư tiếp tục củng cố vững chắc vai trò là một trong những trụ cột quan trọng hàng đầu của quan hệ song phương. Australia hiện là đối tác thương mại lớn thứ bảy của Việt Nam, trong khi Việt Nam khẳng định vị thế là đối tác thương mại đầy năng động của Australia tại Đông Nam Á.

Chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại song phương đã đạt 8,1 tỷ USD, tăng gần 22% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Australia bứt phá mạnh mẽ đạt 3,8 tỷ USD, tăng hơn 25%, cao hơn mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân của cả nước. Đồng thời, Australia vững vàng nằm trong nhóm 10 đối tác lớn nhất của Việt Nam về thương mại, du lịch và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

Cùng với những thành quả hợp tác về kinh tế, hợp tác quốc phòng và an ninh giữa hai nước cũng ngày càng đi vào chiều sâu trên nền tảng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Khoa học, công nghệ và giáo dục đang nổi lên mạnh mẽ thành động lực phát triển mới của mối quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước…

Chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia không chỉ là dấu mốc mở ra giai đoạn phát triển mới của quan hệ song phương, mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm của lãnh đạo hai nước trong việc xây dựng quan hệ Việt Nam-Australia ngày càng hiệu quả, trên cơ sở tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.

Chuyến thăm cũng là bước triển khai quan trọng đường lối đối ngoại được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần cụ thể hóa chủ trương đưa quan hệ với các đối tác chiến lược toàn diện đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả và bền vững.

Nguyễn Hồng Điệp (TTXVN)








11/08/2026
Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọngNhân chuyến thăm chính thức củ...
08/08/2026

Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Nhân chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia, phóng viên TTXVN tại Sydney đã có cuộc trao đổi với Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và khu vực Đông Nam Á tại Đại học New South Wales, về ý nghĩa của chuyến thăm cũng như triển vọng quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam và Australia trong bối cảnh hai nước đang bước vào giai đoạn triển khai thực chất khuôn khổ hợp tác mới.

Theo Giáo sư Carl Thayer, chuyến thăm Australia lần này có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Australia trên cương vị người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chuyến thăm diễn ra trong giai đoạn hai nước đang triển khai mạnh mẽ khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện, đồng thời hiện thực hóa cam kết duy trì các cuộc gặp thường niên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Điều này thể hiện quyết tâm của Việt Nam và Australia trong việc duy trì động lực phát triển quan hệ ở cấp độ cao nhất.

Đánh giá về các nội dung hợp tác có thể đạt được trong chuyến thăm, Giáo sư Carl Thayer cho rằng thương mại và đầu tư sẽ tiếp tục là những ưu tiên hàng đầu, đặc biệt là việc thúc đẩy mục tiêu tăng gấp đôi đầu tư song phương trong những năm tới. Bên cạnh đó, các lĩnh vực công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), an ninh mạng, công nghệ xanh và các công nghệ mới nổi cũng sẽ trở thành những hướng hợp tác trọng tâm, trong đó Australia có nhiều thế mạnh có thể bổ trợ cho quá trình phát triển của Việt Nam.

Theo ông, nông nghiệp công nghệ cao cũng là lĩnh vực có nhiều triển vọng hợp tác lâu dài giữa hai nước. Mặc dù chuyến thăm có thể chưa tạo ra những thỏa thuận cụ thể trong lĩnh vực này, song đây sẽ là một trong những định hướng hợp tác quan trọng trong thời gian tới.

Ngoài ra, Giáo sư Carl Thayer nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực tiếp tục là trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương. Ông phân tích rằng hợp tác giáo dục giữa hai nước sẽ ngày càng tập trung vào đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền kinh tế số. Australia cũng đặc biệt quan tâm đến việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học).

Theo đánh giá của Giáo sư Carl Thayer, khoảng 96% nội dung của Chương trình hành động hiện nay giữa hai nước đã được triển khai hoặc hoàn thành đúng tiến độ. Vì vậy, nhiều khả năng lãnh đạo hai nước sẽ nhất trí xây dựng một Chương trình hành động mới nhằm định hướng hợp tác trong giai đoạn tiếp theo.

Đề cập đến những cải cách thể chế và định hướng phát triển mới của Việt Nam sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Giáo sư Carl Thayer cho rằng Việt Nam đang tập trung vào bốn trọng tâm lớn gồm tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước và hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quy hoạch và điều phối phát triển; xây dựng mô hình tăng trưởng mới dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời tăng cường năng lực dự báo, quản trị rủi ro và khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường quốc tế. Ông cho rằng những định hướng này phản ánh hình ảnh một Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò là một quốc gia tầm trung có trách nhiệm, chủ động và hội nhập sâu rộng hơn vào các vấn đề khu vực cũng như quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer nhận định việc Việt Nam không chỉ ban hành các chủ trương phát triển mà còn chú trọng khâu tổ chức thực hiện, tiếp thu các thông lệ tốt và tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp thu hẹp khoảng cách về năng lực quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như phương thức hoạch định chính sách giữa hai nước. Điều này sẽ tạo điều kiện để Australia hợp tác với Việt Nam hiệu quả hơn trong nhiều lĩnh vực: từ công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo đến phát triển nguồn nhân lực. Theo ông, Việt Nam và Australia đang đối mặt với nhiều thách thức tương đồng trong quá trình phát triển, do đó hợp tác giữa hai bên sẽ ngày càng mang tính bổ trợ. Những cải cách mà Việt Nam đang triển khai sẽ giúp hai nước có thêm nhiều sự đồng thuận trong các lĩnh vực hợp tác trọng điểm.

Đánh giá triển vọng dài hạn của quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Australia, Giáo sư Carl Thayer phân tích hai nước có nhiều lợi ích chiến lược và quan điểm tương đồng trong việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đề cao vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), bảo đảm an ninh khu vực Mekong cũng như duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trên Biển Đông. Hai nước đều coi trọng hợp tác nhằm tăng cường an ninh hàng hải và ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống, xuyên quốc gia.

Về khả năng chống chịu của nền kinh tế, theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam và Australia đã có nền tảng hợp tác vững chắc thông qua các hiệp định thương mại tự do quan trọng như Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN - Australia - New Zealand (AANZFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục bị gián đoạn, cả hai nước đều tiếp tục ủng hộ chủ nghĩa đa phương, hệ thống thương mại dựa trên luật lệ và vai trò của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), qua đó tạo nền tảng để phối hợp nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trong dài hạn.

Đối với phát triển bền vững, ông cho rằng cả Việt Nam và Australia đều đã cam kết thực hiện mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050 và đang triển khai nhiều chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu. Hai nước cũng cùng đối mặt với những bài toán về giảm phát thải, chuyển dịch năng lượng xanh, phát triển điện gió và năng lượng tái tạo.

Mặc dù Australia không phải là nhà tài trợ lớn nhất của Việt Nam, Giáo sư Carl Thayer nhận định hai bên vẫn còn nhiều dư địa hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực chuyên sâu như chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản trị rủi ro. Theo ông, biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu và nếu các cơ chế hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này suy yếu, tất cả các quốc gia đều sẽ chịu tác động. Vì vậy, Việt Nam và Australia cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để duy trì các cam kết quốc tế.

Giáo sư Carl Thayer đánh giá cao cách tiếp cận của Việt Nam trong việc gắn triển khai chính sách với các mục tiêu, thời hạn và kết quả cụ thể. Theo ông, phương thức này tương đồng với văn hóa quản trị của Australia và sẽ tạo nền tảng để hai nước tiếp tục triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác trong giai đoạn tới.

Ông tin tưởng rằng, bất kể những thay đổi có thể diễn ra trong đời sống chính trị Australia sau các kỳ bầu cử, nền tảng của quan hệ Việt Nam – Australia vẫn sẽ tiếp tục được duy trì vững chắc. Hai nước sẽ tiếp tục đồng hành trong dài hạn nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định tại Đông Nam Á, đề cao vai trò trung tâm của ASEAN và bảo đảm mọi hoạt động trên Biển Đông được điều chỉnh bởi luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Diệu Linh - Lê Đạt - Trung Trang (TTXVN)

Chú thích ảnh: Giáo sư Carl Thayer. Ảnh: Lê Đạt/PV TTXVN tại Australia



Address

Làng Nam Cao, Xã Tơ Tung
Gia Lai

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công an xã Tơ Tung posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share