Luật sư Gia Lai

Luật sư Gia Lai Luật sư tư vấn pháp luật miễn phí

03/11/2022

HIỂU VÀ PHÂN BIỆT QUY ĐỊNH VỀ LÃI SUẤT CHO VAY GIỮA HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ THÔNG THƯỜNG VÀ HỢP ĐỒNG VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG (NGÂN HÀNG): PHÂN TÍCH VÀ LUẬN GIẢI!
Hợp đồng vay tài sản của Tổ chức tín dụng là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa Tổ chức tín dụng (Bao gồm: Ngân hàng, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Tổ chức tài chính vi mô, Quỹ tín dụng nhân dân) với khách hàng là các Cá nhân, tổ chức khác (Được gọi là Hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay thương mại). Ví dụ: Ngân hàng A ký hợp đồng cho Bà B vay 1 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng tín dụng, vì Bên cho vay là Ngân hàng - Một Tổ chức tín dụng.
Còn Hợp đồng cho vay tài sản không phải là Hợp đồng tín dụng, là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các tổ chức tín dụng như đã liệt kê ở trên (Được gọi là Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng Hoặc Hợp đồng vay dân sự thông thường). Ví dụ: Ông C ký hợp đồng, cho Bà D vay 2 tỷ đồng, giao dịch cho vay này được gọi là Hợp đồng vay dân sự thông thường (Không phải là hợp đồng tín dụng), vì không có sự tham gia của Tổ chức tín dụng trong giao dịch này.
Về bản chất, cả 2 loại giao dịch vừa nêu, giống nhau ở chổ đều là Hợp đồng cho vay tài sản - Nhưng do Hợp đồng tín dụng, có sự tham gia của Tổ chức tín dụng, điển hình là Ngân hàng, là những tổ chức cho vay chuyên nghiệp, hay còn gọi là kinh doanh tiền tệ, nên pháp luật có những quy định khác nhau về Lãi suất cho vay giữa 2 loại giao dịch này. Phân tiếp sau đây, Tác giả sẽ phân tích và luận giải các quy định chi tiết, để Bà con tham khảo và vận dụng khi cần thiết.
I. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG VAY DÂN SỰ
Như trên đã nêu, Hợp đồng vay dân sự thông thường (Hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng) là giao dịch cho vay tài sản được giao kết giữa các Cá nhân, Tổ chức với nhau mà không có sự tham gia của một trong các Tổ chức tín dụng. Đây là Hợp đồng dân sự thông thường, nên chịu sự điều chỉnh của Luật dân sự. Theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành (2015), thì Hợp đồng vay tài sản giữa Bà con ta với nhau, có các loại lãi suất và mức lãi suất như sau:
1. Lãi suất trong hạn:
Lãi suất trong hạn, hay còn gọi là lãi trên nợ gốc. Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Thì lãi suất 1%/tháng này, gọi là mức lãi suất trong hạn vay.
Lãi suất trong hạn tối đa - Bộ luật Dân sự 2015, quy định các bên có quyền thỏa thuận về mức lãi suất trong hạn, nhưng không được quá 20%/năm, nghĩa rằng không quá 1,7% tháng (Làm tròn) - Theo đó, nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá mức vừa nêu, thì mức vượt quá đó không có hiệu lực pháp lý! . Ví dụ: Ông G cho Bà H vay 200 triệu, thì lãi suất 1 năm không được quá 40 triệu, tức không quá 3,4 triệu/tháng. Nếu các bên thỏa thuận lãi suất là 5 triệu/tháng, thì 1,6 triệu vượt quá đó không có giá trị, tức Bên vay không có nghĩa vụ phải trả lãi cho phần cao hơn mức Luật đã định.
Kết luận 1: Khi bắt đầu thỏa thuận vay, thì chỉ phát sinh lãi suất vay trong hạn (Trừ vay không tính lãi - Chúng ta không bàn đến trong bài viết này); Mức lãi cao nhất là 20%/năm, tức 1,7% trên tháng. Và nếu Bà con trả đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn, thì không bao giờ phải đóng thêm loại lãi nào - Bà con nhớ kỹ điều này!
2. Lãi suất quá hạn:
Lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi do chậm trả nợ gốc. Như vậy, khoản lãi này, chỉ phát sinh khi Người vay, chậm trả nợ gốc. Và chỉ tính trên số nợ gốc còn chưa trả. Ví dụ: Bà N cho Bà M vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2021 đến 31/12/2021), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2021, M đã không trả được nợ gốc cho N, thì từ 01/01/2022, M phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc.
Mức lãi quá hạn, được khống chế là không quá 150% mức lãi suất trong hạn. Nghĩa rằng: Mức lãi suất quá hạn không quá 30%/năm, vì ở mục trên, Chúng ta đã viện dẫn Luật khống chế lãi suất trong hạn tối đa là 20%. Ví dụ: Bà V cho Ông X vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Nhưng đến ngày 31/12/2020, X chỉ trả cho V được 50 triệu nợ gốc. Cho nên từ 01/01/2021, X phải trả thêm khoản nợ lãi quá hạn, do chậm trả nợ gốc: Cụ thể là 1,5%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả. Tất nhiên, là cùng với khoản lãi trong hạn 1%/tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả nữa. Hiểu nôm na, là từ ngày 01/01/2021, X chỉ phải trả tổng cả 02 loại lãi trong hạn và quá hạn, với mức tổng lãi suất là 2,5% tháng đối với số tiền 50 triệu chưa trả.
Kết luận 2: Khoản lãi quá hạn, hay còn gọi là lãi phạt do chậm trả nợ gốc, chỉ phát sinh khi Người vay chậm trả nợ gốc đã đến hạn mà chưa trả, và chỉ tính trên khoản nợ gốc còn lại chưa trả được. Mức lãi cao nhất là 30%/năm, tức 2,5%/tháng cho số nợ gốc chậm trả.
3. Lãi phạt chậm trả lãi
Lãi phạt chậm trả lãi, là khoản tiền lãi phát sinh, do bên vay không trả lãi, khi đến hạn trả lãi, với mức lãi không quá 10%/năm, tức xấp xỉ 0,9%/tháng đối với khoản lãi chưa trả, lưu ý là đối với khoản lãi chưa trả, chứ không phải % tính trên nợ gốc. Ví dụ: A cho B vay 100 triệu, thời hạn vay là 12 tháng (Từ 01/01/2019 đến 31/12/2019), lãi suất 1%/tháng (Mỗi tháng trả lãi 1 triệu đồng). Ngay trong tráng đầu tiên, B đã không trả lãi đúng hạn vào ngày 31/01/2019. Do đó, từ 01/02/2019, B phải trả thêm khoản lãi phạt 9.000 (Chín nghìn đồng) cho khoản lãi (1 triệu) chậm trả này.
Kết luận 03: Khoản lãi phạt do chậm trả lãi, chỉ phát sinh khi đến kì hạn trả lãi, mà Bên vay không trả lãi, với mức lãi không quá 0,9%/tháng cho số tiền lãi chưa trả.
II. LÃI SUẤT ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Với nội dung vừa trình bày nêu trên, Bà con ta thấy rằng: Hợp đồng vay dân sự thông thường, bị Luật dân sự không chế về mức lãi suất tối đa. Tuy nhiên, đối với Hợp đồng vay tín dụng, có Bên cho vay là Tổ chức tín dụng, thì lãi suất cho vay được quy định, điều chỉnh bởi Luật các tổ chức tín dụng, và các văn bản hướng dẫn thi hành, mà không chịu sự điều chỉnh về lãi suất trong Bộ luật dân sự.
Trên cơ sở đó Luật các Tổ chức tín dụng cho phép Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật (Điều 91.2), quy định lấp lửng này đã từng gây ra tranh cãi, vì sự không rõ ràng. Sự tranh cãi chỉ bớt sôi nổi, khi Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành thông tư 39/2016, với quy định: Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có quy định về lãi suất cho vay tối đa trong một số trường hợp đặc biệt.
Và sự tranh cãi hoàn toàn chấm dứt, khi Hội đồng thẩm phán Tòa tối cao, ban hành Nghị quyết số 01/2019, khẳng định chắc nịch rằng: Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết mà KHÔNG áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định lãi, lãi suất.
Hiểu nôm na, đối với hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, thì không bị khống chế về mức lãi suất cho vay theo quy định của Bộ luật dân sự đã nêu trên. Nghĩa rằng, Ngân hàng tự đề xuất về mức lãi suất cho vay, dựa trên sự cạnh tranh của thị trường, nếu cho vay lãi quá cao, thì Người ta sẽ đi vay của Ngân hàng khác (Đại loại vậy). Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, việc để cho Tổ chức tín dụng/Ngân hàng tự do trong việc quy định về lãi suất, mà không bị khống chế bởi bất kỳ hạn mức tối đa nào, cũng có một số điểm bất cập, đáng để bàn luận thêm. Bởi thực tế, đã từng xảy ra việc có Tổ chức tài chính, cho Bà con vay online, với cách tính lãi trên trời, để lại một số hệ lụy không nhỏ...... Hi vọng, qua Bài viết này, Bà con ta đã có được sự phân biệt về lãi suất của các loại giao dịch vay tài sản dân sự thông thường, với vay của Tổ chức tín dụng. Trong Bài viết sau, Tác giả sẽ giành thời gian để phân tích về trường hợp đòi nợ kiểu khủng bố những Người dù không liên quan gì đến việc vay mượn, để Bà con tham khảo.
Nguồn: Luật sư Đặng Bá Kỹ

Toà án nhân dân huyện Ia Grai - Gi Lai
22/07/2022

Toà án nhân dân huyện Ia Grai - Gi Lai

THÔNG BÁO CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ TƯ VẤN PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP!!!Thành lập doanh nghiệp;Đăng ký thay đổi, thông báo thay ...
12/10/2021

THÔNG BÁO CUNG CẤP DỊCH VỤ VÀ TƯ VẤN PHÁP LÝ CHO DOANH NGHIỆP!!!
Thành lập doanh nghiệp;
Đăng ký thay đổi, thông báo thay đổi;
Tạm ngưng, tiếp tục hoạt động;
Giải thể doanh nghiệp.

Luật sư Gia Lai

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH, CÓ ĐƯỢC CHIA TÀI SẢN CHUNG?.Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định, tài sản chung của vợ...
18/09/2021

VỢ HOẶC CHỒNG NGOẠI TÌNH, CÓ ĐƯỢC CHIA TÀI SẢN CHUNG?.
Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, tài sản được thừa kế chung, được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
- Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Về vấn đề ngoại tình, pháp luật không có quy định người ngoại tình không được phân chia tài sản. Tuy nhiên, tòa án sẽ tính đến yếu tố lỗi của mỗi bên. Theo đó, trường hợp bạn có căn cứ chứng minh vợ mình vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, bạn có quyền yêu cầu tòa án phân chia nhiều tài sản hơn.

Không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, có được cấp sổ đỏ?Căn cứ điều 101 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân đan...
18/09/2021

Không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, có được cấp sổ đỏ?

Căn cứ điều 101 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất vẫn được cấp sổ đỏ trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 1/7/2014 mà không có các giấy tờ quy định tại điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 nhưng đáp ứng được các điều kiện sau thì được cấp sổ đỏ và không phải nộp tiền sử dụng đất:

- Có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp.

Trường hợp 2: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 nhưng đáp ứng được các điều kiện sau thì được cấp sổ đỏ:

- Đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 1/7/2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai.

- Được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt với nơi đã có quy hoạch.

Về hạn mức công nhận đất, hình thức sử dụng đất được công nhận với trường hợp này được hướng dẫn chi tiết tại điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Theo điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp sổ đỏ hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp sổ đỏ.

Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau:

- Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

- Biên bản hoặc quyết định xử phạt hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất.

- Quyết định hoặc bản án của Tòa án đã có hiệu lực, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất.

- Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện UBND cấp xã nơi có đất.

- Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất.

- Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; CMND hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký.

- Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất.

- Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan.

- Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ.

- Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của UBND cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định nêu trên có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

Đối với, trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định nêu trên hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của UBND cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư nơi có đất.

Một câu chuyện và bài học hay
28/07/2021

Một câu chuyện và bài học hay

LÝ THUYẾT CON GIÁN: MUỐN THÀNH CÔNG THÌ ĐỪNG BỎ QUA

"Sundar Pichai là CEO của Google từ 2015. Lý thuyết "con gián" của ông rất hay. Có thể hiểu lý thuyết này qua câu chuyện sau:

“Một con gián, không biết từ đâu, bay vào nhà hàng và đậu lên vai một quý bà. Quý bà vô cùng hoảng hốt. Khuôn mặt sợ đến tái mét, bà vừa la hét, vừa nhảy ra khỏi ghế ngồi, cố lắc thật mạnh để tách con gián ra. Con gián bay sang đỗ lên vai một quý bà khác. Quý bà này cũng sợ hãi không kém và tạo ra một sự hỗn loạn còn lớn hơn.

Và cứ thế, con gián chuyền từ người này sang người khác. Sự hỗn loạn ngày càng gia tăng.

Cuối cùng người bồi bàn cũng chạy tới. Anh lấy chiếc khăn xua nhẹ và con gián vô tình bay sang vai anh. Rất bình tĩnh, anh chậm rãi đi ra cửa, rồi chạm nhẹ vào nó. Con gián tự bay ra vườn. Sự hỗn loạn kết thúc”.

Sundar Pichai đúc kết: “Nhìn qua, chúng ta dễ lầm tưởng rằng, sự hỗn loạn là do con gián mang lại. Nhưng qua cách xử lý của người bồi bàn, chúng ta hiểu là không phải thế. Sự hỗn loạn thực tế đã được tạo ra bởi những hành động của các quý bà đối với con gián, chứ không phải bản thân con gián”.

Trong cuộc sống, những chuyện ta không mong muốn vẫn luôn xảy ra.

Chẳng hạn, nhỏ thì như chuyện: cơm sống, canh mặn; hoặc lớn hơn như chuyện: trẻ con hàng xóm đánh nhau hay anh chồng nhậu say xỉn… Bản thân chúng chưa phải là vấn đề; chính thái độ và cách xử lý không thích hợp của chúng ta mới thực sự biến chúng thành vấn đề.

Liệu con gián có phải là nguyên nhân dẫn đến màn hỗn loạn mà có phần hơi giả tạo của các vị khách vừa rồi?

Nếu đúng như vậy thì tại sao anh chàng bồi bàn lại rất điềm tĩnh xử lí con gián?

Anh ta xử lí tình huống một cách gần như hoàn hảo, không gây ra bất kì sự lộn xộn nào.

Thực sự nguyên nhân của màn huyên náo vừa rồi không phải là con gián, mà là do những vị khách không thể kiểm soát được sự quấy rầy vô duyên của con gián khi nó xuất hiện bất ngờ trong khách sạn.

Tự dưng tôi nhận ra rằng:

Không phải là tiếng hét của cha tôi, vợ tôi hay sếp tôi khiến tôi bực mình, mà là do khả năng yếu kém của bản thân tôi khi không thể kiểm soát được cảm xúc khi phải nghe những lời nói đó.

Không phải là việc tắc nghẽn giao thông khiến tôi bực mình, mà là do khả năng yếu kém của bản thân tôi khi không thể kiểm soát được cảm xúc do con đường tôi đi đang bị tắc.

Không phải vấn đề của tôi là gì, mà là do chính phản ứng của tôi đối với vấn đề đó đã gây ra những lộn xộn cho cuộc đời mình.

Vì thế bài học rút ra từ câu chuyện con gián ở trên là: Không bao giờ nên “phản ứng” trong đời, mà luôn luôn “ứng phó”.

Những vị khách nọ phản ứng khi bị con gián nhảy lên người, trong khi anh bồi bàn ứng phó với nó.

Phản ứng là những hành động mang tính bản năng, còn việc ứng phó là hành động được thực hiện sau khi đã được suy nghĩ kĩ và có kế hoạch.

Nguồn: Kienthuckinhte

Address

Gia Lai

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Gia Lai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category