Luật sư Newton

Luật sư Newton - LUẬT SƯ TRANH TỤNG
- LUẬT SƯ TƯ VẤN
- DỊCH VỤ PHÁP LÝ VỀ NHÀ ĐẤT

ĐẶT CỌC MUA ĐẤT NHƯNG ĐẤT CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN BÁN: NGƯỜI MUA CÓ MẤT TIỀN CỌC?Trong thực tế mua bán nhà đất, không ít trườn...
25/08/2026

ĐẶT CỌC MUA ĐẤT NHƯNG ĐẤT CHƯA ĐỦ ĐIỀU KIỆN BÁN: NGƯỜI MUA CÓ MẤT TIỀN CỌC?
Trong thực tế mua bán nhà đất, không ít trường hợp người mua sau khi xem đất, thống nhất giá và ký giấy đặt cọc thì mới phát hiện thửa đất đang có tranh chấp, chưa được cấp Giấy chứng nhận, đang bị kê biên hoặc chưa đủ điều kiện để thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất. Khi đó, một câu hỏi thường được đặt ra là: nếu hợp đồng mua bán đất chưa thể thực hiện thì khoản tiền đặt cọc có được lấy lại hay không?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần phân biệt giữa hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đặt cọc là biện pháp bảo đảm được quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, bản thân việc đặt cọc không đồng nghĩa với việc quyền sử dụng đất đã được chuyển cho người mua.
Trong khi đó, Luật Đất đai năm 2024 đặt ra những điều kiện cụ thể để người sử dụng đất được thực hiện quyền chuyển nhượng. Theo khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai năm 2024, về nguyên tắc, người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận, đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, đất còn trong thời hạn sử dụng và không thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều này dẫn đến một điểm rất dễ nhầm lẫn: đất chưa đủ điều kiện chuyển nhượng không có nghĩa mọi thỏa thuận đặt cọc liên quan đến thửa đất đó đương nhiên vô hiệu. Cần xem xét cụ thể mục đích của việc đặt cọc, nội dung thỏa thuận và nguyên nhân khiến hợp đồng chuyển nhượng không được giao kết hoặc không được thực hiện.
Chẳng hạn, A có một thửa đất nhưng tại thời điểm ký giấy đặt cọc, thửa đất đang có tranh chấp. A vẫn nhận của B 300 triệu đồng và cam kết sau khi giải quyết tranh chấp sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng. Nếu sau đó A không thể thực hiện việc chuyển nhượng vì đất vẫn đang tranh chấp thì cần xác định nguyên nhân không thực hiện hợp đồng thuộc về ai, nội dung cam kết của các bên như thế nào và việc đặt cọc nhằm bảo đảm giao kết hay thực hiện hợp đồng nào.
Ngược lại, nếu người bán biết rõ đất đang có vấn đề nhưng vẫn cung cấp thông tin không đúng, cam kết rằng đất hoàn toàn đủ điều kiện và sau khi nhận tiền cọc lại không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết thì việc xử lý tiền cọc phải được xem xét trên cơ sở chính hành vi và nghĩa vụ của bên nhận cọc. Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì về nguyên tắc phải trả lại tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Tuy nhiên, cũng không nên hiểu rằng cứ hợp đồng chuyển nhượng không thực hiện được thì người mua mặc nhiên được nhận tiền cọc và tiền phạt cọc. Nếu chính người đặt cọc từ chối giao kết hợp đồng mà không thuộc trường hợp do lỗi của bên bán hoặc không có căn cứ khác theo thỏa thuận thì hậu quả có thể ngược lại: tiền đặt cọc có thể thuộc về bên nhận đặt cọc theo quy định của Điều 328 Bộ luật Dân sự.
Đặc biệt, đối với giao dịch đất đai, việc xác định lỗi của các bên có ý nghĩa rất quan trọng. Một thửa đất có thể chưa đủ điều kiện chuyển nhượng tại thời điểm ký đặt cọc nhưng các bên lại thỏa thuận rõ rằng sau khi hoàn tất thủ tục thì mới ký hợp đồng chuyển nhượng. Trong trường hợp này, không thể chỉ nhìn vào tình trạng pháp lý của thửa đất tại thời điểm đặt cọc để kết luận ngay rằng người mua được quyền hủy bỏ thỏa thuận và yêu cầu trả lại tiền.
Ngược lại, nếu người bán cam kết rằng mình có đầy đủ quyền đối với đất, đất đủ điều kiện giao dịch nhưng thực tế lại đang bị kê biên, đang có tranh chấp hoặc thuộc trường hợp không được thực hiện quyền chuyển nhượng thì đây lại là vấn đề khác. Khi đó, cần xem xét trách nhiệm của người bán đối với cam kết đã đưa ra cũng như hậu quả của việc không thực hiện được hợp đồng.
Một vấn đề nữa thường gây tranh cãi là trường hợp hai bên chỉ lập một tờ giấy viết tay với nội dung “đặt cọc mua đất”, trong đó có ghi rõ số tiền, diện tích, giá bán, thời hạn ký hợp đồng và các điều kiện liên quan. Tờ giấy này không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp, Tòa án cần xác định đúng bản chất của văn bản: đây là thỏa thuận đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng trong tương lai hay các bên đã thực sự thỏa thuận việc chuyển quyền sử dụng đất nhưng gọi tên văn bản là “giấy đặt cọc”.
Việc xác định đúng bản chất của giao dịch có thể quyết định hoàn toàn hướng giải quyết tranh chấp. Nếu là quan hệ đặt cọc thì trọng tâm là nghĩa vụ giao kết, thực hiện hợp đồng và lỗi của bên làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện. Nếu thực chất các bên đã xác lập giao dịch chuyển quyền sử dụng đất thì phải tiếp tục xem xét các điều kiện có hiệu lực của giao dịch và điều kiện thực hiện quyền theo pháp luật đất đai.
Luật Đất đai năm 2024 cũng cho thấy pháp luật không phải lúc nào cũng xử lý theo hướng phủ nhận hoàn toàn giao dịch chỉ vì thủ tục về đất đai chưa được hoàn tất. Nghị định 101/2024/NĐ-CP còn quy định một số trường hợp người đang sử dụng đất do nhận quyền sử dụng đất trước đây nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký vẫn có thể thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Điều này cho thấy khi giải quyết tranh chấp đất đai, cần xem xét toàn bộ quá trình hình thành, sử dụng và thực hiện giao dịch chứ không nên chỉ căn cứ vào việc tại một thời điểm nào đó thủ tục đăng ký chưa hoàn tất.
Vì vậy, khi đặt cọc mua đất, điều quan trọng không chỉ là ghi rõ số tiền đặt cọc. Người mua cần kiểm tra tình trạng pháp lý của thửa đất, người đứng tên Giấy chứng nhận, tình trạng tranh chấp, kê biên, thời hạn sử dụng đất và khả năng thực hiện thủ tục đăng ký. Đồng thời, giấy đặt cọc cũng cần thể hiện rõ thời hạn ký hợp đồng, trách nhiệm của từng bên nếu không thể giao kết hợp đồng và trường hợp nào được trả lại tiền cọc, trường hợp nào phải chịu phạt cọc.

ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐANG BỊ TẠM GIAM ĐƯỢC TẠI NGOẠIKhông ít người cho rằng chỉ cần có đơn xin bảo lãnh, có ...
19/08/2026

ĐIỀU KIỆN CẦN VÀ ĐỦ ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐANG BỊ TẠM GIAM ĐƯỢC TẠI NGOẠI

Không ít người cho rằng chỉ cần có đơn xin bảo lãnh, có người thân đứng ra cam kết hoặc nộp tiền bảo đảm thì chắc chắn sẽ được tại ngoại. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Căn cứ pháp lý Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có thể hiểu tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng minh người bị buộc tội sẽ gây khó khăn trong việc điều tra, truy tố và xét xử hoặc người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Tạm giam không phải là biện pháp ngăn chặn bắt buộc trong mọi vụ án. Khi xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam, cơ quan tiến hành tố tụng có thể thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Để một người đang bị tạm giam được tại ngoại, cần hội đủ một điều kiện cần và một điều kiện đủ.

Để được xem xét tại ngoại, trước hết người bị tạm giam phải thuộc trường hợp pháp luật cho phép áp dụng biện pháp ngăn chặn thay thế. Việc cho tại ngoại chỉ được đặt ra khi có căn cứ cho thấy người đó sẽ không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội, không tiêu hủy, che giấu hoặc làm sai lệch chứng cứ, không mua chuộc hay đe dọa người làm chứng, người bị hại và không cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Tuy nhiên, đây mới chỉ là điều kiện cần. Yếu tố quyết định là cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải đánh giá rằng việc tiếp tục tạm giam không còn cần thiết. Vì vậy, việc có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, gia đình bảo lãnh, công việc ổn định, nhiều giấy khen hay đang mắc bệnh chỉ là những tình tiết để xem xét, chứ không đồng nghĩa chắc chắn sẽ được tại ngoại. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng nhận thấy việc tạm giam vẫn cần thiết để bảo đảm giải quyết đúng đắn vụ án thì vẫn có quyền từ chối yêu cầu.

Ví dụ, một người bị khởi tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ do gây tai nạn làm bị thương người khác nhưng đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự và toàn bộ chứng cứ đã được thu thập đầy đủ, không còn nguy cơ tác động đến quá trình giải quyết vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng có thể xem xét thay thế tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm. Ngược lại, nếu người bị khởi tố là giám đốc doanh nghiệp trong một vụ án sản xuất, buôn bán hàng giả, dù gia đình có đơn bảo lĩnh hoặc đề nghị đặt số tiền lớn để bảo đảm nhưng vụ án vẫn còn nhiều đồng phạm, chứng cứ đang được thu thập và có nguy cơ tác động đến người làm chứng hoặc tiêu hủy tài liệu thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn có căn cứ tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam và không chấp nhận yêu cầu xin tại ngoại.

Trong nhiều vụ án, có những bị can được tại ngoại ngay từ giai đoạn điều tra. Nhưng cũng có những vụ, mặc dù gia đình đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, có nhiều tổ chức, cá nhân uy tín đứng ra bảo lĩnh, song cơ quan tiến hành tố tụng vẫn quyết định tiếp tục tạm giam vì xét thấy việc này là cần thiết để bảo đảm giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do đó, khi làm thủ tục xin tại ngoại, điều quan trọng nhất không phải là viết một lá đơn thật hay, mà là chứng minh được rằng người bị tạm giam không còn gây ra bất kỳ nguy cơ nào đối với quá trình giải quyết vụ án. Khi những căn cứ đó đủ sức thuyết phục, khả năng được chấp nhận sẽ cao hơn rất nhiều. Vì vậy, trước khi làm đơn xin bảo lĩnh gia đình nên trao đổi với luật sư để đánh giá đầy đủ tính chất vụ án, giai đoạn tố tụng và các yếu tố pháp lý liên quan. Một hồ sơ được chuẩn bị đúng hướng không bảo đảm chắc chắn được tại ngoại, nhưng sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền có thêm căn cứ để xem xét một cách khách quan và toàn diện. Tại ngoại không phải là quyền đương nhiên của người bị tạm giam. Đó là quyết định tố tụng được đưa ra khi cơ quan có thẩm quyền thấy rằng việc tiếp tục tạm giam không còn cần thiết. Hiểu đúng quy định sẽ giúp người dân bảo vệ quyền lợi của mình bằng con đường pháp luật, thay vì kỳ vọng vào những điều pháp luật không quy định.

XÁC ĐỊNH THÔNG TIN CHA, MẸ KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Đăng ký khai sinh không chỉ là thủ tục h...
11/08/2026

XÁC ĐỊNH THÔNG TIN CHA, MẸ KHI ĐĂNG KÝ KHAI SINH - NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU

Đăng ký khai sinh không chỉ là thủ tục hành chính nhằm ghi nhận sự ra đời của một cá nhân mà còn là quá trình xác lập những thông tin nhân thân có ý nghĩa pháp lý lâu dài, trong đó có thông tin về cha và mẹ. Trong những trường hợp thông thường, việc xác định cha, mẹ của trẻ tương đối đơn giản. Tuy nhiên, khi cha mẹ không đăng ký kết hôn, cha chưa nhận con, quan hệ cha con có tranh chấp, người mẹ đang trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh con với người khác, hoặc quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, việc xác định thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh có thể phát sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết đồng thời theo Luật Hộ tịch năm 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Điểm xuất phát của vấn đề là quyền được khai sinh của trẻ. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh. Luật Hộ tịch năm 2014 quy định đăng ký khai sinh là trách nhiệm của cha, mẹ và những người có liên quan, đồng thời xác định các thông tin về người được khai sinh, cha và mẹ là nội dung của đăng ký khai sinh. Tuy nhiên, việc pháp luật yêu cầu đăng ký các thông tin về cha, mẹ không có nghĩa trong mọi trường hợp phải có đầy đủ tên của cả cha và mẹ ngay tại thời điểm đăng ký khai sinh. Pháp luật đồng thời dự liệu nhiều tình huống khác nhau tùy thuộc vào việc quan hệ cha, mẹ, con đã được xác lập hay chưa.

Trong trường hợp tại thời điểm đăng ký khai sinh chưa xác định được cha của trẻ, pháp luật hộ tịch cho phép đăng ký khai sinh mà phần thông tin về cha được để trống. Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định nếu chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh, phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh để trống. Đây là một quy định có ý nghĩa bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ, bởi việc chưa xác định được cha không thể trở thành lý do khiến trẻ không được đăng ký khai sinh. Quan hệ cha con có thể được xác lập sau đó thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con nếu đáp ứng các điều kiện theo pháp luật.

Tuy nhiên, quy định về việc để trống thông tin cha không thể được hiểu theo nghĩa người mẹ có quyền tùy ý quyết định có ghi hay không ghi tên một người vào Giấy khai sinh. Muốn xác định nội dung khai sinh trước hết phải xác định tình trạng pháp lý của quan hệ cha, mẹ, con. Đây là điểm mà pháp luật hộ tịch phải được đọc cùng với các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Đáng chú ý nhất là Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con. Khoản 1 Điều 88 quy định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Trường hợp con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân thì cũng được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Đây là một cơ chế suy đoán pháp lý nhằm xác lập quan hệ cha con trên cơ sở tình trạng hôn nhân của người mẹ.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đăng ký khai sinh. Trong trường hợp người mẹ đang có chồng, việc xác định thông tin người cha không thể chỉ dựa vào câu trả lời của người mẹ về việc ai là cha sinh học của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ được sinh trong thời kỳ hôn nhân hoặc thuộc trường hợp 300 ngày sau khi hôn nhân chấm dứt, pháp luật đã đặt ra căn cứ để xác định người chồng là cha của trẻ. Khi đó, nếu có người cho rằng người chồng không phải cha của trẻ thì vấn đề cần giải quyết không còn đơn thuần là thủ tục khai sinh mà liên quan đến việc xác định hoặc phủ nhận quan hệ cha con.

Khoản 2 Điều 88 quy định khi cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Điều 89 tiếp tục quy định về quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con: người được nhận là cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình; người không được nhận là cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định mình là cha, mẹ của người đó. Những quy định này cho thấy pháp luật phân biệt rõ giữa việc đăng ký một thông tin hộ tịch và việc xác lập hoặc phủ nhận một quan hệ nhân thân. Khi quan hệ cha con đã có căn cứ pháp lý hoặc đang có tranh chấp, thủ tục hộ tịch không thể được sử dụng để thay thế cho cơ chế xác định cha, mẹ, con theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Ngược lại, trong trường hợp không có căn cứ pháp lý xác định cha và cũng không có tranh chấp, pháp luật tạo điều kiện để người cha sinh học thực hiện thủ tục nhận con. Điều 14 Thông tư số 04/2020/TT-BTP quy định về chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con, trong đó có văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận quan hệ cha con, mẹ con. Trường hợp không có chứng cứ theo quy định, pháp luật còn cho phép sử dụng văn bản cam đoan về quan hệ cha, mẹ, con cùng với người làm chứng trong những trường hợp đáp ứng điều kiện luật định. Điều 15 Thông tư này cũng quy định việc đăng ký khai sinh có thể được kết hợp với đăng ký nhận cha, mẹ, con trong trường hợp đáp ứng điều kiện.

Một vấn đề khác cần lưu ý là sự khác nhau giữa cha sinh học và cha pháp lý. Người có quan hệ huyết thống với trẻ chưa đương nhiên trở thành cha về mặt pháp lý nếu quan hệ cha con chưa được xác lập theo quy định của pháp luật. Ngược lại, trong trường hợp thuộc cơ chế suy đoán của Điều 88, người chồng có thể được xác định là cha về mặt pháp lý dù sau đó phát sinh vấn đề về quan hệ huyết thống. Vì vậy, kết quả giám định huyết thống có thể là chứng cứ quan trọng trong việc xác định quan hệ cha con, nhưng không phải trong mọi trường hợp chỉ cần có kết quả ADN là có thể trực tiếp thay đổi thông tin trên Giấy khai sinh. Việc thay đổi địa vị pháp lý của người cha phải được thực hiện theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định.

Đối với quan hệ cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài, cần đồng thời xem xét các quy định tại Chương VIII Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 121 xác định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên; Điều 122 quy định về pháp luật áp dụng; Điều 123 quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; Điều 124, Điều 125 liên quan đến giá trị pháp lý và việc công nhận, ghi chú các giấy tờ, bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Riêng Điều 128 quy định về pháp luật áp dụng đối với việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, khi cha hoặc mẹ là người nước ngoài, cần xác định tình trạng hôn nhân, nơi đăng ký kết hôn, nơi cư trú, thời điểm sinh con và các giấy tờ liên quan trước khi xác định thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh.

Chẳng hạn, một phụ nữ Việt Nam đã đăng ký kết hôn với một người Trung Quốc nhưng sau đó về Việt Nam sinh sống với một người đàn ông khác và sinh con. Việc hai vợ chồng không còn chung sống không làm hôn nhân đương nhiên chấm dứt. Nếu tại thời điểm sinh con quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại thì phải xem xét Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình về căn cứ xác định người chồng là cha của trẻ. Muốn xác lập người đàn ông khác là cha thì phải giải quyết quan hệ cha, mẹ, con theo đúng trình tự pháp luật, đặc biệt trong trường hợp người chồng không thừa nhận hoặc phát sinh tranh chấp.

Trường hợp không có tranh chấp và người cha sinh học tự nguyện nhận con, việc nhận cha, con có thể được thực hiện theo thủ tục hộ tịch nếu có đủ căn cứ chứng minh quan hệ cha con. Trường hợp có tranh chấp hoặc cần phủ nhận quan hệ cha con đã được pháp luật suy đoán, vấn đề phải được giải quyết theo cơ chế xác định cha, mẹ, con, trong đó Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình trao quyền cho các bên yêu cầu Tòa án xác định hoặc phủ nhận quan hệ cha, con. Như vậy, việc đăng ký khai sinh phải được đặt trong mối quan hệ với tình trạng pháp lý của cha, mẹ, con; không thể chỉ căn cứ vào việc ai là cha sinh học hoặc ý chí của người mẹ để lựa chọn thông tin ghi trên Giấy khai sinh.

Trong thực tiễn, ranh giới giữa các trường hợp này có thể được nhìn thấy qua một tình huống cụ thể. Chẳng hạn, một phụ nữ Việt Nam đã đăng ký kết hôn với một người Trung Quốc nhưng sau đó về Việt Nam sinh sống với một người đàn ông khác và sinh con. Nếu tại thời điểm sinh con, quan hệ hôn nhân với người chồng Trung Quốc vẫn tồn tại về mặt pháp lý thì không thể chỉ căn cứ vào việc người đàn ông đang chung sống với người mẹ mới là cha sinh học để bỏ qua Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình. Cần xác định tình trạng hôn nhân, thời điểm sinh con và có hay không có tranh chấp về quan hệ cha con. Nếu người mẹ hoặc người đàn ông đang chung sống muốn phủ nhận quan hệ cha con của người chồng và xác lập người khác là cha, thì phải giải quyết vấn đề này theo cơ chế xác định cha, mẹ, con chứ không đơn thuần bằng việc yêu cầu cơ quan hộ tịch để trống tên cha.

Trường hợp này cũng cho thấy cần phân biệt giữa tình trạng thực tế và tình trạng pháp lý của quan hệ hôn nhân. Việc vợ chồng không còn chung sống, sống xa nhau hoặc một bên đã chung sống với người khác không đồng nghĩa với việc hôn nhân đã chấm dứt. Nếu chưa có căn cứ pháp lý làm chấm dứt hôn nhân thì vẫn phải xem xét cơ chế suy đoán cha được quy định tại Điều 88. Tương tự, nếu người mẹ đã ly hôn thì cũng không thể chỉ dựa vào ngày ly hôn để kết luận người chồng cũ không còn liên quan đến việc xác định cha, bởi Điều 88 còn đặt ra mốc 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân.

Một vấn đề khác cũng cần lưu ý là sự khác nhau giữa cha sinh học và cha pháp lý. Người có quan hệ huyết thống với trẻ chưa đương nhiên trở thành cha về mặt pháp lý nếu quan hệ cha con chưa được xác lập theo quy định. Ngược lại, trong trường hợp thuộc cơ chế suy đoán của Điều 88, người chồng có thể được xác định là cha về mặt pháp lý dù sau đó phát sinh vấn đề về quan hệ huyết thống. Vì vậy, kết quả giám định huyết thống có thể là chứng cứ quan trọng nhưng không phải trong mọi trường hợp chỉ cần có kết quả ADN là có thể trực tiếp thay đổi thông tin trên Giấy khai sinh. Việc thay đổi địa vị pháp lý của người cha phải được thực hiện theo đúng thủ tục mà pháp luật quy định.

Từ những quy định trên có thể thấy, thông tin cha, mẹ trên Giấy khai sinh không phải là một nội dung có thể xác định hoàn toàn theo ý chí của người đi đăng ký. Cơ quan hộ tịch phải căn cứ vào tình trạng pháp lý của quan hệ cha, mẹ, con tại thời điểm đăng ký. Có trường hợp thông tin cha chưa được xác lập nên được để trống; có trường hợp cha có thể được xác định ngay thông qua thủ tục nhận cha, con; cũng có trường hợp phải giải quyết tranh chấp về quan hệ cha con trước khi có thể xác định chính xác thông tin cần ghi nhận.

Vì vậy, khi xem xét một trường hợp khai sinh có vấn đề về thông tin cha, mẹ, không nên bắt đầu và cũng không nên dừng lại ở câu hỏi “Giấy khai sinh có bắt buộc phải có tên cha hay không?”. Câu hỏi quan trọng hơn là quan hệ cha, mẹ, con đã được pháp luật xác lập như thế nào tại thời điểm đăng ký khai sinh, và việc xác định hoặc thay đổi thông tin đó thuộc thẩm quyền của cơ quan hộ tịch hay cần có sự can thiệp của Tòa án? Từ câu trả lời này mới có thể xác định đúng thủ tục khai sinh, thủ tục nhận cha, mẹ, con hoặc thủ tục xác định, phủ nhận quan hệ cha, mẹ, con.

Xét cho cùng, mục tiêu của pháp luật không phải là buộc mọi Giấy khai sinh phải có đủ tên cha và mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà là bảo đảm hai yêu cầu song song: trẻ em phải được đăng ký khai sinh và các thông tin nhân thân được ghi nhận phải phù hợp với tình trạng pháp lý thực tế. Việc chưa xác định được cha không làm mất quyền được khai sinh của trẻ; nhưng ngược lại, việc một người không muốn ghi tên cha cũng không thể tự thân làm mất đi một quan hệ cha con mà pháp luật đã xác lập hoặc suy đoán. Chính sự kết hợp giữa Luật Hộ tịch và Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở để giải quyết cân bằng hai yêu cầu này.

NGHỊ ĐỊNH 253/2026/NĐ-CP: NHỮNG THAY ĐỔI ĐÁNG CHÚ Ý MÀ NGƯỜI NỘP THUẾ CẦN BIẾTKể từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 253/202...
06/08/2026

NGHỊ ĐỊNH 253/2026/NĐ-CP: NHỮNG THAY ĐỔI ĐÁNG CHÚ Ý MÀ NGƯỜI NỘP THUẾ CẦN BIẾT

Kể từ ngày 01/7/2026, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Đây không phải là một nghị định đơn thuần mang tính kỹ thuật, mà là văn bản hoàn thiện cơ chế áp dụng Luật trên thực tế, giải quyết nhiều vấn đề còn có cách hiểu khác nhau trong quá trình kê khai, khấu trừ và quyết toán thuế.

Một trong những nội dung được người lao động quan tâm nhất là việc điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh. Theo quy định mới, mức giảm trừ đối với bản thân người nộp thuế được nâng lên 15,5 triệu đồng/tháng, còn mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 6,2 triệu đồng/tháng. Việc điều chỉnh này phản ánh sự thay đổi của mặt bằng chi phí sinh hoạt trong những năm gần đây, đồng thời giúp giảm số lượng cá nhân phải nộp thuế hoặc giảm số thuế phải nộp đối với người có thu nhập trung bình.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng làm rõ hơn cách xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công. Thay vì chỉ quy định mang tính nguyên tắc như trước đây, Nghị định đã hướng dẫn cụ thể nhiều khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng từ người sử dụng lao động. Điều này giúp doanh nghiệp có cơ sở xác định chính xác khoản nào phải tính vào thu nhập chịu thuế, đồng thời hạn chế tình trạng cùng một khoản chi nhưng mỗi đơn vị lại áp dụng theo một cách khác nhau.

Một điểm mới đáng chú ý khác là khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa. Theo quy định hiện hành, nếu doanh nghiệp chi tiền ăn giữa ca bằng tiền thì khoản chi đến 1,2 triệu đồng/người/tháng sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế; chỉ phần vượt quá mức này mới phải tính thuế. Trong trường hợp doanh nghiệp trực tiếp tổ chức bữa ăn hoặc cấp suất ăn theo quy định thì việc xác định thu nhập chịu thuế cũng được hướng dẫn cụ thể hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho cả doanh nghiệp và người lao động.

Nghị định 253 cũng dành nhiều nội dung để hướng dẫn về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng dài hạn, cộng tác viên hoặc người có thu nhập vãng lai, cơ chế khấu trừ tiếp tục được quy định rõ nhằm bảo đảm việc thu thuế thống nhất trên toàn quốc. Đồng thời, Nghị định vẫn duy trì cơ chế để những cá nhân có tổng thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế được thực hiện cam kết theo quy định, tránh việc bị khấu trừ rồi phải thực hiện thủ tục hoàn thuế sau này.

Đối với công tác quyết toán thuế, Nghị định được đánh giá là đã đơn giản hóa đáng kể thủ tục hành chính. Một trong những điểm đáng chú ý là cá nhân có thêm thu nhập ở nơi khác nhưng khoản thu nhập này đã được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% và bình quân trong năm không vượt quá 15 triệu đồng/tháng thì không phải quyết toán đối với khoản thu nhập đó. Quy định này sẽ giúp giảm đáng kể số lượng hồ sơ quyết toán thuế của người lao động có thêm thu nhập từ hoạt động giảng dạy, cộng tác, làm việc theo dự án hoặc các công việc thời vụ.

Ngoài các nội dung trên, Nghị định còn hệ thống hóa 22 trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân, trong đó có nhiều trường hợp rất phổ biến trên thực tế như chuyển nhượng, nhận thừa kế hoặc quà tặng là bất động sản giữa những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống theo quy định của pháp luật; chuyển nhượng nhà, đất là tài sản duy nhất của cá nhân khi đáp ứng đủ điều kiện; cùng nhiều trường hợp miễn thuế khác. Việc quy định rõ điều kiện áp dụng sẽ giúp người dân hạn chế sai sót khi kê khai và giảm những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

Có thể thấy, điểm nổi bật của Nghị định 253/2026/NĐ-CP không nằm ở việc tạo ra một sắc thuế mới, mà ở việc chuẩn hóa cách áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân. Nhiều quy định vốn trước đây còn được hiểu theo nhiều cách nay đã được hướng dẫn cụ thể, từ việc xác định thu nhập chịu thuế, các khoản được miễn thuế, mức giảm trừ gia cảnh, khấu trừ thuế cho đến quyết toán thuế. Điều này không chỉ giúp cơ quan thuế thuận lợi hơn trong quá trình quản lý mà còn giúp doanh nghiệp và người nộp thuế chủ động thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình.

Đối với người lao động, đây là thời điểm nên rà soát lại các khoản thu nhập, phụ cấp và chính sách tiền lương để biết khoản nào được miễn thuế, khoản nào phải tính thuế. Đối với doanh nghiệp, việc cập nhật kịp thời Nghị định 253 sẽ góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình khấu trừ, kê khai và quyết toán thuế thu nhập cá nhân trong thời gian tới.

CHO VAY TIỀN NHƯNG KHÔNG CÓ GIẤY VAY, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC KHÔNG?Trong thực tế, việc cho người thân, bạn bè hoặc người quen v...
02/08/2026

CHO VAY TIỀN NHƯNG KHÔNG CÓ GIẤY VAY, CÓ ĐÒI LẠI ĐƯỢC KHÔNG?

Trong thực tế, việc cho người thân, bạn bè hoặc người quen vay tiền thường xuất phát từ sự tin tưởng hơn là sự ràng buộc bằng giấy tờ pháp lý. Nhiều trường hợp các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, chuyển khoản hoặc giao tiền trực tiếp mà không lập Giấy vay tiền, Hợp đồng vay tài sản hay Biên bản giao nhận tiền. Khi mối quan hệ còn tốt đẹp, việc trả nợ thường diễn ra bình thường. Tuy nhiên, khi người vay liên tục trì hoãn, né tránh hoặc phủ nhận việc đã vay tiền thì người cho vay mới nhận ra mình không có bất kỳ giấy tờ nào chứng minh khoản vay. Vậy, không có giấy vay tiền thì có đòi lại được tiền hay không? Người cho vay cần làm gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

1. Không có giấy vay tiền có còn quyền yêu cầu trả nợ hay không?
Câu trả lời là Có. Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và khi đến hạn, bên vay phải hoàn trả tài sản theo đúng thỏa thuận.
Bên cạnh đó, Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Giao dịch dân sự có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, trừ trường hợp pháp luật quy định phải lập thành văn bản hoặc phải tuân thủ hình thức nhất định. Đối với hợp đồng vay tài sản thông thường, pháp luật không bắt buộc phải lập thành văn bản. Vì vậy, việc không có Giấy vay tiền không làm mất hiệu lực của giao dịch vay, cũng không làm mất quyền yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

2. Không có giấy vay tiền thì chứng minh bằng cách nào?
Mặc dù pháp luật không bắt buộc hợp đồng vay phải lập thành văn bản, nhưng khi xảy ra tranh chấp thì người cho vay có nghĩa vụ chứng minh việc vay tiền đã thực sự phát sinh. Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện phải đưa ra chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Các loại chứng cứ có thể sử dụng gồm:
- Tin nhắn SMS, Zalo, Messenger...
- Email trao đổi về việc vay tiền.
- Ghi âm, ghi hình cuộc trao đổi giữa các bên.
- Sao kê ngân hàng hoặc chứng từ chuyển khoản có ghi rõ nội dung cho vay.
- Người làm chứng biết việc giao nhận tiền.
- Các tài liệu, giấy tờ hoặc thông tin thể hiện người vay đã nhận tiền hoặc từng thừa nhận nghĩa vụ trả nợ.
- Các chứng cứ điện tử khác theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế, Giấy vay tiền chỉ là một trong nhiều loại chứng cứ chứng minh quan hệ vay tài sản. Nếu có hệ thống chứng cứ đầy đủ, đồng bộ và hợp pháp thì Tòa án vẫn có thể xác định giao dịch vay tiền đã được xác lập.

3. Tòa án sẽ đánh giá chứng cứ như thế nào?
Khi giải quyết vụ án, Tòa án sẽ không chỉ căn cứ vào một loại chứng cứ duy nhất mà sẽ đánh giá toàn diện tất cả các tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp, đối chiếu với diễn biến vụ việc và các quy định của pháp luật. Nếu có đủ căn cứ chứng minh việc giao tiền, việc nhận tiền và nghĩa vụ phải hoàn trả thì Tòa án có thể xác định quan hệ vay tài sản là có thật, dù không có Giấy vay tiền.

4. Người vay không trả nợ thì người cho vay phải làm gì?
Nếu có đủ căn cứ chứng minh quan hệ vay tài sản nhưng người vay cố tình không trả nợ hoặc trốn tránh nghĩa vụ thì người cho vay có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ tiền hoặc tài sản đã vay khi đến hạn. Nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì, tùy từng trường hợp, người vay còn phải trả lãi theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

5. Cần lưu ý về thời hiệu khởi kiện
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Do đó, khi người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, người cho vay nên nhanh chóng:
- Thu thập và lưu giữ toàn bộ tài liệu, chứng cứ liên quan;
- Gửi yêu cầu thanh toán hoặc thông báo đòi nợ bằng văn bản (nếu cần);
- Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện trong thời hiệu luật định. Việc chậm trễ có thể ảnh hưởng đến quyền khởi kiện và quá trình bảo vệ quyền lợi của mình.

6. Một số khuyến nghị để hạn chế tranh chấp
Để tránh những rủi ro pháp lý về sau, khi cho người khác vay tiền, các bên nên:
- Lập Giấy vay tiền hoặc Hợp đồng vay tài sản bằng văn bản.
- Ghi rõ số tiền vay, thời hạn trả, lãi suất (nếu có), phương thức thanh toán và quyền, nghĩa vụ của các bên.
- Có chữ ký của bên cho vay và bên vay; nếu có điều kiện nên có người làm chứng.
- Khi chuyển khoản, cần ghi rõ nội dung như: "Cho vay tiền", "Tiền vay theo thỏa thuận"... để làm căn cứ chứng minh khi xảy ra tranh chấp.
- Lưu giữ toàn bộ tin nhắn, email, sao kê ngân hàng và các tài liệu liên quan.
Vậy, việc không có Giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc người cho vay mất quyền đòi lại khoản tiền đã cho vay. Điều quan trọng là người cho vay phải chứng minh được việc giao dịch vay tài sản đã thực sự phát sinh thông qua các chứng cứ hợp pháp. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, việc chuẩn bị đầy đủ tài liệu, chứng cứ và thực hiện quyền khởi kiện đúng thời hiệu sẽ là cơ sở quan trọng để Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cho vay.

Address

Lê Trọng Tấn
Da Nang

Opening Hours

Monday 07:30 - 17:30
Tuesday 07:30 - 17:30
Wednesday 07:30 - 17:30
Thursday 07:30 - 17:30
Friday 07:30 - 17:30
Saturday 07:30 - 11:30

Telephone

+84905145585

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Newton posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư Newton:

Shortcuts

Share