Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương

Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương - Tư vấn pháp lý
- Cung cấp các dịch vụ pháp lý trọn gói
- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Cần Thơ, thành lập và hoạt động từ tháng 03 năm 2007. Sau hơn 13 năm hoạt động, văn phòng luật sư nhận được sự tin tưởng, tín nhiệm của quý khách hàng tại thành phố Cần Thơ và các tỉnh, thành trong cả nước. Phương châm hoạt động của Văn phòng là Thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng một cách tốt nhất v

ới tiêu chí hoạt động: “Tận tâm – Tôn trọng khách hàng – Hiệu quả công việc.”

Tận tâm: Chúng tôi luôn dốc hết sức và làm tròn trách nhiệm để đạt được kết quả tốt nhất.
– Tôn trọng khách hàng: Khách hàng là thượng đế, mỗi khách hàng khi đến với chúng tôi đều được tôn trọng, thông tin của khách hàng sẽ luôn được bảo mật tuyệt đối. Hiệu quả công việc: Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương luôn nhận thức đầy đủ trách nhiệm nên mỗi một vụ việc luôn được xử lý nhanh chóng, hiệu quả nhất nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương có đội ngũ Luật sư, cộng sự nhiều kinh nghiệm cùng với sự nhiệt tình, năng động, nhạy bén trong mọi công việc. Bên cạnh đó, đội ngũ Luật sư, nhân viên làm việc rất chuyên nghiệp luôn mang đến sự an tâm cho khách hàng khi lựa chọn dịch vụ pháp lý của chúng tôi. Luật sư Trưởng văn phòng hiện đang là giảng viên của các trường Đại học Cửu Long, Đại học Tây Đô và Đại học Trà Vinh, nên nguồn nhân lực đội ngũ cộng tác viên đã, đang, sẽ là Luật sư được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn cũng như thực tiễn. Phạm vi hoạt động của văn phòng đa dạng với nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm: Hoạt động tư vấn, tham gia tố tụng để bào chữa trong các vụ án hình sự, tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong các vụ kiện dân sự, hành chính, thương mại tại các cấp Tòa trên toàn quốc và đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng những vấn đề liên quan đến pháp luật. Ngoài ra, văn phòng còn nhận các dịch vụ khác như: Soạn hợp đồng, di chúc, đơn khởi kiện, đơn khiếu nại, thành lập doanh nghiệp, dịch vụ nhà, đất… Thêm vào đó, Văn phòng luật sư thường xuyên tư vấn miễn phí cho người nghèo và gia đình chính sách. Vào ngày 10/10 hàng năm, văn phòng chủ động vận động các luật sư có tâm huyết tự nguyện đóng góp kinh phí và cùng với Ban Chủ nhiệm đoàn luật sư thành phố Cần Thơ tham gia tư vấn ngoài trụ sở và tặng quà cho những người nghèo, người dân tộc thiểu số và gia đình chính sách tại các xã vùng sâu trong thành phố Cần Thơ. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhu cầu về cung cấp pháp lý của khách hàng một cách thuận lợi nhất trong xu thế hiện nay, Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương đã đặt ra mục tiêu phát triển thêm các chi nhánh trực thuộc. Tháng 08/2020 Văn phòng đã khai trương chi nhánh tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã và đang hoạt động rất hiệu quả, thời gian tới Văn phòng sẽ mở thêm chi nhánh tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và chi nhánh tại Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Với thực lực của mình, Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương hoàn toàn tin tưởng rằng sẽ đáp ứng được mọi yêu cầu của Quý khách hàng trong khuôn khổ của Pháp luật Việt Nam, rất hân hạnh được hợp tác và phục vụ Quý khách hàng. VĂN PHÒNG LUẬT SƯ PHẠM KHẮC PHƯƠNG

Văn phòng tại Cần Thơ: số 15/7, đường Lê Hồng Phong, khu vực 2, phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Chi nhánh tại Giồng Riềng: số 58, Hùng Vương, thị trấn Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Chi nhánh tại thành phố Rạch Giá: số P21-06, đường 3/2, An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Văn phòng giao dịch tại huyện Vĩnh Thạnh: ấp Vĩnh Tiến, thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.

Điện thoại: 0909 283 386 – 0939 380 744

Website: https://lsphamkhacphuong.com

Email: [email protected]

18/07/2025
Giải quyết vướng mắc về công chứng, chứng thực liên quan đến người sử dụng đất là 'Hộ gia đình' theo Luật Đất đai năm 20...
23/12/2024

Giải quyết vướng mắc về công chứng, chứng thực liên quan đến người sử dụng đất là 'Hộ gia đình' theo Luật Đất đai năm 2024

Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại, kể từ ngày 01/01/2025 (Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành) sẽ không còn người sử dụng đất là hộ gia đình (Điều 4). Nhà nước sẽ không thực hiện giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất với tư cách hộ gia đình sử dụng đất.

Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này bao gồm hộ gia đình, cá nhân trong nước.

Tại khoản 29, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.

Thực tiễn áp dụng quy định về hộ gia đình đã phát sinh một số bất cập trong hoạt động công chứng, chứng thực khi hộ gia đình thực hiện quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất như:

Một là, xác định tư cách thành viên đối với nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Thực tế có những hộ gia đình mà vợ chồng là quan hệ hôn nhân thực tế, xác lập sau ngày 03/01/1987 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định nhưng quan hệ hôn nhân này không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Hai là, theo Luật Đất đai năm 2013, vào thời điểm mà Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì những ai có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng mà đang sống chung sẽ là thành viên hộ gia đình sử dụng đất. Và vì thế, họ là những người sử dụng đối với quyền sử dụng đất này. Tuy nhiên,trong trường hợp có sự biến động về đất (tách, nhập thửa, chuyển mục đích sử dụng đất,..) dẫn đến việc cấp mới, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thời điểm này có sự thay đổi về thành viên trong hộ gia đình thì thành viên hộ gia đình được xác định như thế nào?

Ba là, Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định chung là những người có quan hệ huyết thống đang sống chung tại thời điểm được cấp đất là thành viên hộ gia đình. Trong trường hợp này, quan hệ huyết thống được xác định đến hàng thứ mấy, theo quy định của pháp luật thì Luật Đất đai không quy định cụ thể.

Bốn là, khi đất được cấp cho hộ thì những người đang sống cùng nhau sẽ trở thành những người cùng sử dụng cho dù không có đóng góp hình thành nên tài sản. Bởi pháp luật hiện hành chỉ quy định thời điểm và mối quan hệ để xác định tư cách thành viên mà không xét đến công sức đóng góp.

Đây là những vướng mắc, bất cập trên thực tế, gây không ít không khăn cho người có thẩm quyền công chứng, chứng thực (công chứng viên của các tổ chức hành nghề công chứng; Chủ tịch UBND cấp xã) khi xác nhận các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Bởi vì, hiện nay việc xác định các thành viên trong hộ gia đình còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, ảnh hưởng đến việc thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất mà trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi tên của chủ hộ gia đình.

Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên, kể từ ngày 01/01/2025 (Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành) sẽ không còn người sử dụng đất là hộ gia đình (Điều 4). Nhà nước sẽ không thực hiện giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất với tư cách hộ gia đình sử dụng đất.

Luật Đất đai năm 2024 chỉ công nhận hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (khoản 25 Điều 3) và xử lý các vấn đề liên quan đến quyền sử dụng đất của “hộ gia đình” trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (Điều 259).

Theo quy định tại Điều 119; khoản 2, Điều 259, Luật Đất đai 2024, từ ngày 01/01/2025, hộ gia đình chỉ được giao đất, cho thuê đất (trong đó có giao đất ở) nếu thuộc trường hợp được bồi thường bằng đất khi Nhà nước thu hồi đất; đồng thời, trong quyết định giao đất, cho thuê đất phải ghi cụ thể các cá nhân là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất.

Đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình (được xác định trước ngày 01/01/2025), khoản 5 Điều 135 Luật Đất đai 2024 quy định cấp 01 Giấy chứng nhận ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình. Theo đó, việc xác định các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình để ghi tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất do các thành viên này tự thỏa thuận và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đây là các điểm mới của Luật Đất đai năm 2024 so với Luật Đất đai năm 2013 liên quan đến người sử dụng đất là hộ gia đình.

Hiện nay, chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về việc xác định thành viên trong hộ gia đình. Do đó, người có thẩm quyền công chứng, chứng thực khi giải quyết các giao dịch về đất đai của hộ gia đình thường căn cứ vào sổ hộ khẩu của hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định những thành viên trong hộ. Trường hợp không xuất trình được sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp đất thì phải làm đơn xin xác định nhân khẩu tại cơ quan Công an địa phương quản lý hộ để xác định số lượng nhân khẩu tại thời điểm cần xác định. Tuy nhiên, trên thực tế có những thành viên cùng chung hộ khẩu nhưng không phải là thành viên trong gia đình, không có tài sản chung, không cùng đóng góp công sức để sản xuất theo quy định của pháp luật về hộ gia đình” (nhờ nhập chung hộ khẩu…). Nhưng khi yêu cầu công chứng, chứng thực đối với đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, người có thẩm quyền công chứng, chứng thực không có cơ sở loại trừ những người này, vì không đủ căn cứ để xác định quyền lợi của họ trong hộ gia đình.

Mặt khác, theo quy định tại Luật Cư trú, kể từ ngày 01/01/2023, sổ hộ khẩu, sổ tạm trú chính thức hết giá trị sử dụng. Bên cạnh đó, cơ quan công an chỉ xác nhận các thành viên có trong hộ khẩu tại một thời điểm nhất định chứ không phải thời điểm cấp Giấy chứng nhận. Người dân phải mất nhiều thời gian, công sức liên hệ với nhiều cơ quan để xin xác nhận các thành viên có quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

Chính vì vậy, quy định của Luật Đất đai năm 2024 liên quan đến quyết định giao đất, cho thuê đất phải ghi cụ thể các cá nhân là thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất (trong trường hợp hộ gia đình sử dụng đất trước ngày 01/01/2025 được Nhà nước bồi thường về đất) và quy định Giấy chứng nhận ghi đầy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình sẽ giải quyết được vướng mắc, bất cập nêu trên và tạo thuận lợi cho người dân khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền công chứng, chứng thực khi xác nhận các giao dịch về đất đai liên quan đến hộ gia đình được thực hiện đúng pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân.

Nguồn: Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam.

***NHÀ ĐẤT RẺ BÌNH THỦY***Địa chỉ: mặt tiền, Đường Nguyễn Chí Thanh, khu vực Thới Long, phường Thới An Đông, quận Bình T...
14/12/2024

***NHÀ ĐẤT RẺ BÌNH THỦY***
Địa chỉ: mặt tiền, Đường Nguyễn Chí Thanh, khu vực Thới Long, phường Thới An Đông, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Diện tích: 522.5m2 hiện nay trên đất có 1 nhà chính và sân vườn phía sau thoáng mát
* Ưu tiên: Cách trường 91B khoản 500m, gần trường cấp 2 Thới An Đông, gần chợ, an ninh, gần , đầy đủ tiện tích.
- công chứng nhanh trong ngày.
Giá chuyển nhượng: 5 tỷ 300. Có thương lượng
Số điện thoại liên hệ: 0388397571 gặp Thanh Nhân xem đất và gặp chính chủ

04/12/2024

Thành viên gia đình không được đề cập trong di chúc thì có quyền yêu cầu chia thừa kế không?

Nguyên tắc cơ bản của thừa kế theo di chúc là tôn trọng quyền tự định đoạt của người lập di chúc. Do đó, người lập di chúc có quyền quyết định người được hưởng thừa kế, định đoạt phần tài sản cho mỗi người và có quyền không cho ai được hưởng thừa kế tài sản của mình theo Điều 626, Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015. Tuy nhiên, theo tinh thần nhân văn của pháp luật, phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, pháp luật dân sự đã có quy định để hạn chế quyền tự định đoạt này.

Cụ thể, tại Điều 644, BLDS 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc có nêu rõ, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Quy định tại khoản 1 Điều 644 này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

Các đối tượng hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc nêu trên được xác định dựa trên ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với người để lại di sản, bao gồm vợ, chồng, cha mẹ, con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động.

Thứ nhất đối tượng là vợ, chồng

Tính đến thời điểm mở thừa kế, quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng phải được xác định là hôn nhân hợp pháp theo khoản 3 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình (HNGĐ) 2014. Theo đó, kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thì mới xác định được họ có phải là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc hay không.

Thứ hai đối tượng là cha, mẹ

Điều 69 và Điều 70 của Luật HNGĐ 2014, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương con cái và ngược lại con cái cũng có phải có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng, kính trọng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu. Đây không chỉ là quyền, nghĩa vụ về mặt pháp luật mà còn là đạo đức, truyền thống tốt đẹp trong xã hội. Xuất phát từ điều đó mà BLDS 2015 đã quy định cha, mẹ, là người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc của người kể lại di sản. Bởi, việc người chết không cho những người này hưởng di sản hoặc hưởng ít hơn phần di sản đáng lẽ được hưởng là một sự vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng của người chết với các chủ thể này.

Thứ ba, đối tượng là con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động

Con của người để lại di chúc có thể hiểu là con đẻ – người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản và con nuôi – người có quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản. Quan hệ nuôi dưỡng ở đây không chỉ phát sinh giữa cha, mẹ nuôi mà con có thể giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng của chồng hoặc vợ nếu giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con.

Theo đó, con chưa thành niên phải thỏa mãn hkoản 1 Điều 21 BLDS 2015: "Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi".

Tuy nhiên hiện nay, chưa có điều luật hướng dẫn cụ thể về điều kiện xác định “người không có khả năng lao động” nên ở đây có thể áp dụng pháp luật tương tự, cụ thể tại khoản 1.4 Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP: "Người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên)…”.

Do vậy, nếu như người đã thành niên mà thường xuyên cần người chăm sóc và rơi vào trường hợp như Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP đã nêu ở trên thì xác định họ “không có khả năng lao động”.

Những đối tượng thỏa mãn điều kiện được nêu ở trên vẫn được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc nội dung di chúc trong trường hợp không được người để lại di chúc cho hưởng di sản hoặc được hưởng nhưng ít hơn phần di sản đáng lẽ được hưởng. Ở đây, pháp luật quy định, phần di sản đáng lẽ được hưởng bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, cụ thể được xác định như sau:

Một suất thừa kế theo pháp luật = Tổng di sản thừa kế : Tổng số người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất.

Và người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc sẽ được hưởng một phần bắt buộc = 2/3 x một suất thừa kế.

Ví dụ: Vợ chồng ông A., bà B. kết hôn vào năm 2000, ông bà có 03 người con chung là anh Q., anh K. và chị H. Lúc sinh thời giữa ông A. và bà B. luôn xảy ra mâu thuẫn nhưng đối với các con thì vẫn yêu thương, chăm sóc. Vào tháng 08/2023, ông A. qua đời, có để lại di chúc nêu rõ truất quyền thừa kế của bà B. và để lại toàn bộ tài sản cho các con. Sau khi biết được nội dung di chúc, biết mình bị truất quyền hưởng di sản, bà B. đã làm đơn khởi kiện ra Tòa, yêu cầu phân chia di sản thừa kế của ông A. Tài sản ông A. để lại là 500.000.000 đồng.

Trong tình huống trên, ông A. không muốn cho bà B. hưởng thừa kế và định đoạt toàn bộ tài sản của mình cho các con.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 644 BLDS 2015, trong trường hợp này bà B. vẫn được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo luật. Việc không muốn dành cho bà B. dẫn đến bà B. rơi vào trường hợp không được hưởng di sản ông A. theo di chúc nhưng vẫn là người vợ hợp pháp đã chung sống cùng ông nhiều năm, bà xứng đáng được hưởng một phần di sản từ chồng mình để lại.

Cách xác định phần di sản bà B. được hưởng như sau:

Một suất thừa kế = 500.000.000 : 4 (B., Q., K., H.) = 125.000.000 đồng;

Phần di sản bà B được hưởng = 125.000.000 x 2/3 =83.333.000 đồng.

Giải quyết như thế nào trong trường hợp xảy ra tranh chấp?

Mâu thuẫn trong quá trình phân chia thừa kế là điều khó tránh khỏi, do đó, khi rơi vào trường hợp được hưởng thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc, người thừa kế trước hết hãy cùng những người thừa kế khác ngồi lại thỏa thuận và thống nhất phân chia di sản hợp lý, hợp tình để giữ được sự đoàn kết và tình cảm gia đình, tránh xảy ra những hậu quả đáng tiếc làm rạn nứt tình thân…

Song, trong trường hợp không thể thỏa thuận, người thừa kế có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa, yêu cầu Tòa phân chia di sản thừa kế theo khoản 5 Điều 26 BLTTDS 2015.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

- Đơn khởi kiện;

- Các giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại di sản (giấy khai sinh, căn cước công dân,…);

- Giấy chứng tử của người để lại di sản, các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

- Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong họ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có).

Có thể thấy, Pháp luật Việt Nam thừa nhận và bảo hộ quyền lợi này của người thừa kế hợp pháp, đặc biệt là các thành viên gia đình gần gũi như vợ chồng, cha mẹ, con cái. Những người này sẽ không bị loại trừ hoàn toàn bởi di chúc và họ có quyền yêu cầu phần di sản của mình ngay cả khi di chúc không chỉ định. Điều này thể hiện sự công bằng trong việc phân chia tài sản và bảo vệ quyền lợi của người thân trong gia đình.
Nguồn: Tạp chí điện tử luật sư Việt Nam

Câu hỏi từ chị Nguyễn Thị T: Luật sư cho tôi hỏi, di chúc miệng là gì? Điều kiện để di chúc miệng hợp pháp là gì?Cảm ơn ...
20/11/2024

Câu hỏi từ chị Nguyễn Thị T: Luật sư cho tôi hỏi, di chúc miệng là gì? Điều kiện để di chúc miệng hợp pháp là gì?

Cảm ơn chị đã tin tưởng và đặt câu hỏi cho chúng tôi. Luật sư Hoàng Trúc xin tư vấn cho chị như sau:
1/ Theo điều Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về di chúc như sau:
“Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”
=> Như vậy, có thể hiểu di chúc miệng là sự thể hiện ý chí bằng lời nói của người để lại di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho những người sống sau khi người lập di chúc chết.
2/ Theo khoản 1 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Di chúc miệng
“1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.”
=> Như vậy, trường hợp không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng. Tuy nhiên sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng đó bị hủy bỏ.
3/ Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể làm chứng cho việc lập di chúc. Người làm chứng cho việc lập di chúc không phải là:
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Trên đây là tư vấn chuyên môn của luật sư dành cho chị, mọi thắc mắc liên quan đến pháp luật chị có thể liên hệ sđt/zalo: 0909.283.386 luật sư Phương hoặc 0916.503.004 Luật sư Hoàng Trúc. Xin chân thành cảm ơn!

18/11/2024

DI CHÚC MIỆNG HỢP PHÁP KHI NÀO?
Do di chúc miệng không phải là di chúc được lập bằng văn bản nên để di chúc miệng được coi là hợp pháp, di chúc miệng cần đáp ứng điều kiện chung về di chúc hợp pháp và điều kiện riêng về tính hợp pháp của di chúc miệng. Cụ thể:
- Điều kiện di chúc thông thường hợp pháp nêu tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015:
• Tình trạng, trạng thái tinh thần của người lập di chúc: Hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc.
• Ý muốn chủ quan, ý chí của người lập di chúc: Người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ hay cưỡng ép.
• Nội dung của di chúc: Nội dung của di chúc phải không vi phạm điều cấm của luật, bao gồm các nội dung chủ yếu: Ngày, tháng, năm lập; họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc và nguwòi hưởng di sản; di sản cùng nơi có di sản…
• Hình thức của di chúc: Hình thức của di chúc không trái luật. Di chúc không được viết tắt hoặc dùng ký hiệu viết di chúc; nếu nhiều trang thì phải đánh số thứ tự từng trang và có chữ ký/điểm chỉ của người lập di chúc; nếu tẩy xoá thì chỗ tẩy xoá cần phải có chữ ký của người lập di chúc; người làm chứng ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa đó.
Ngoài ra, một số lưu ý về hình thức áp dụng cho từng đối tượng cụ thể:
- Di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Lập thành văn bản, được cha, mẹ/người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất/không biết chữ: Người làm chứng lập thành văn bản, có công chứng/chứng thực.
- Điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp nêu tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015:
• Có ít nhất 02 người làm chứng.
• Ngay sau khi người để lại di chúc thể hiện di chúc miệng thì người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên/điểm chỉ vào văn bản ghi lại di chúc miệng này.
• Trong 05 ngày làm việc, chữ ký/điểm chỉ của người làm chứng trên bản ghi chép này phải được công chứng hoặc chứng thực.

02/08/2024

Các trường hợp phải cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất từ hôm nay

Tại Nghị định 101/2024/NĐ-CP vừa được ban hành mới đây, Chính phủ đã quy định rõ các trường hợp phải cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Cụ thể, tại khoản 1 Điều 38 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, các trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã cấp gồm:

- Người sử dụng đất có nhu cầu đổi Giấy chứng nhận đã cấp trước ngày 01/8/2024 sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

- Giấy chứng nhận đã cấp bị ổ, nhòe, rách, hư hỏng.

- Giấy chứng nhận đã cấp chung cho nhiều thửa đất mà thực hiện cấp riêng cho từng thửa đất theo nhu cầu của người sử dụng đất và trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.

- Mục đích sử dụng đất ghi trên Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đã cấp khác với mục đích sử dụng đất theo phân loại đất.

- Vị trí thửa đất trên Giấy chứng nhận đã cấp không chính xác so với vị trí thực tế sử dụng đất tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận đã cấp.

- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc của chồng, nay có yêu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng.

- Giấy chứng nhận đã cấp ghi tên hộ gia đình, nay các thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình đó có yêu cầu cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất để ghi đấy đủ tên thành viên có chung quyền sử dụng đất của hộ gia đình.

- Thay đổi địa chỉ của thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận.

- Thay đổi kích thước các cạnh, diện tích, số hiệu của thửa đất do đo đạc lập bản đồ địa chính, trích đo địa chính thửa đất mà ranh giới thửa đất không thay đổi.

Về trình tự, thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp: Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp hồ sơ quy định nêu trên đến cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Bộ phận Một cửa theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; Văn phòng đăng ký đất đai; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.

Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ là Bộ phận Một cửa theo quy định của UBND cấp tỉnh về thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thì chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.

Ngoài ra, khi đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo các trường hợp sau thì cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất gồm:

- Hợp thửa đất hoặc tách thửa đất.

- Người thuê, thuê lại quyền sử dụng đất của nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng.

- Dự án đầu tư có sử dụng đất mà điều chỉnh quy hoạch xây dựng chi tiết dự án theo quy định của pháp luật về xây dựng hoặc trường hợp chủ đầu tư dự án đã được cấp Giấy chứng nhận cho toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án mà có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho từng thửa đất theo quy hoạch xây dựng chi tiết đã được phê duyệt.

- Chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trên thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận.

- Thay đổi toàn bộ các thông tin thửa đất do đo đạc lập bản đồ địa chính; thay đổi diện tích đất ở do xác định lại diện tích đất ở theo quy định tại khoản 6 Điều 141 Luật Đất đai 2024.

18/07/2024

Xử lý chia nợ ngân hàng khi ly hôn

Khi ly hôn, có rất nhiều quan hệ giữa vợ chồng cần được giải quyết, trong đó có vấn đề về nợ chung. Vậy pháp luật quy định xử lý chia nợ ngân hàng khi ly hôn thế nào?

việc chia nợ ngân hàng khi ly hôn còn phụ thuộc vào việc khoản nợ đó là khoản nợ chung hay riêng của vợ chồng.

Nếu khoản nợ ngân hàng đó là giao dịch được vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập nhằm đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình thì cơ vợ và chồng đều phải có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác với ngân hàng về việc quyết định ai là người trả nợ thì sẽ được thực hiện theo thỏa thuận đó.

Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận được về việc chia nợ ngân hàng chung thì Toà án sẽ giải quyết theo quy định pháp luật.

Về các khoản nợ chung, nợ riêng, căn cứ theo Điều 37, Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 có quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản đối với:

- Nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch được vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ về việc bồi thường thiệt hại mà vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

- Nghĩa vụ do vợ/chồng thực hiện nhằm mục đích đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình;

- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu/sử dụng/định đoạt tài sản chung của vợ, chồng;

- Nghĩa vụ phát sinh khi sử dụng tài sản riêng vợ, chồng để duy trì/phát triển khối tài sản chung/tạo ra thu nhập chủ yếu cho gia đình;

- Nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại do con gây ra mà theo quy định thì cha mẹ có trách nhiệm phải bồi thường và các nghĩa vụ khác được pháp luật quy định.

Đồng thời, tại Điều 45, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ riêng về tài sản sau:

- Nghĩa vụ mà mỗi bên có trách nhiệm trước khi kết hôn;

- Nghĩa vụ của mỗi bên phát sinh từ việc chiếm hữu/sử dụng/định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng;

- Nghĩa vụ phát sinh từ các giao dịch do một bên xác lập và thực hiện mà không vì mục đích đáp ứng nhu cầu của gia đình;

- Nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi vi phạm pháp luật của mỗi bên.

Mặt khác, căn cứ theo Điều 60, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn sẽ có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thoả thuận khác về nghĩa vụ tài sản này.

Vợ chồng có được ly hôn khi chưa trả hết nợ chung?

Việc vợ chồng chưa trả hết nợ chung không phải là điều kiện để Toà án được hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, đồng thời cũng không phải là căn cứ để Toà án làm cơ sở không giải quyết việc ly hôn.

Bởi căn cứ Điều 51, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng. Theo đó, vợ/chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.

Ngoài ra, trường hợp vợ, chồng bị tâm thần/mắc bệnh không thể nhận thức hay làm chủ hành vi và là nạn nhân bạo lực gia đình khiến sức khoẻ và tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì cha, mẹ hoặc người thân thích của người đó có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Bên cạnh đó, Điều luật này cũng chỉ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của chồng khi vợ đang mang thai, sinh con/đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều luật này không đề cập đến việc yêu cầu vợ chồng phải trả hết nợ chung trước khi ly hôn.

Vợ chồng rút yêu cầu ly hôn nhưng ngân hàng vẫn yêu cầu Tòa giải quyết nợ chung thì xử lý ra sao?

Trong vụ án giải quyết việc ly hôn, khi các đương sự rút đơn hoặc hoà giải thành thì Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 217, Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13.

Trường hợp ngân hàng tham gia vụ án với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan từ yêu cầu của vợ, chồng cần giải quyết về vấn đề nợ chung cùng với việc ly hôn thì khi Toà án đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn sẽ bao gồm luôn cả việc không tiếp tục giải quyết đòi nợ chung.

Đây là đối với trường hợp ngân hàng không có yêu cầu độc lập, vì vậy nếu ngân hàng muốn yêu cầu được giải quyết trả nợ ngay thì phải khởi kiện thành một vụ án độc lập khác về nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp ngân hàng tham gia vụ án ly hôn với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì vai trò của ngân hàng trong vụ án này như một nguyên đơn.

Do đó, khi vợ chồng rút yêu cầu ly hôn, thì Toà án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn nhưng không bao gồm quan hệ đòi nợ giữa ngân hàng với vợ, chồng.

Theo đó, Toà án sẽ ra thông báo về việc thay đổi địa vị tố tụng và sẽ tiếp tục giải quyết vụ án dân sự về việc đòi nợ.

11/07/2024

Mức bồi thường tổn thất tinh thần theo mức lương cơ sở mới

Từ ngày 01/7/2024, mức lương cơ sở đã chính thức tăng lên 2,34 triệu đồng. Theo đó, các mức bồi thường tổn thất tinh thần cũng sẽ tăng theo.

Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nêu rõ, người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Trong đó, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra, bên cạnh việc bồi thường thực tế thì khi bị thiệt hại, người gây ra phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại. Trong đó, mức bù đắp do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì sẽ bị ấn định theo số lần của mức lương cơ sở.

Theo Nghị định 73/2024/NĐ-CP, từ ngày 01/7, mức lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/ tháng, nên khi lương cơ sở tăng, mức bồi thường thiệt hại về tinh thần cũng tăng theo. Cụ thể:

- Bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Mức bồi thường không quá 50 lần mức lương cơ sở nên số tiền bồi thường không quá 117 triệu đồng;

- Bồi thường tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm: Mức bồi thường không quá 100 lần mức lương cơ sở nên số tiền bồi thường không quá 234 triệu đồng;

- Bồi thường tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm: Mức bồi thường không quá 10 lần mức lương cơ sở nên số tiền bồi thường không quá 23,4 triệu đồng;

- Bồi thường tổn thất tinh thần do xâm phạm thi thể: Mức bồi thường không quá 30 lần mức lương cơ sở nên số tiền bồi thường không quá 70,2 triệu đồng;

- Bồi thường tổn thất tinh thần do xâm phạm mồ mả: Mức bồi thường không quá 10 lần mức lương cơ sở nên số tiền bồi thường không quá 23,4 triệu đồng.

Cũng theo Bộ luật Dân sự 2015, một người chỉ phải bồi thường thiệt hại khi: Có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác; có thiệt hại xảy ra. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự 2015.

Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường…

Address

15/7, Lê Hồng Phong, Khu Vực 2, Trà Nóc, Bình Thủy, Thành Phố Cần Thơ
Can Tho

Opening Hours

Monday 07:00 - 17:00
Tuesday 07:00 - 17:00
Wednesday 07:00 - 17:00
Thursday 07:00 - 17:00
Friday 07:00 - 17:00

Telephone

+84909283386

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Văn phòng luật sư Phạm Khắc Phương:

Share

Category