Duyên LAW

Duyên LAW Luật Gia - Tư vấn Pháp lý miễn phí
Chia sẻ kiến thức pháp luật và hành trình thực thi công lý ⚖️
Công tác tại Công ty Luật Kiều An & Cộng sự
(4)

Thông báo lịch nghỉ của Công Ty Luật Kiều An và Cộng sự . Mọi người đặt lịch tư vấn lưu ý khoảng thời gian nghỉ lễ của C...
25/04/2026

Thông báo lịch nghỉ của Công Ty Luật Kiều An và Cộng sự . Mọi người đặt lịch tư vấn lưu ý khoảng thời gian nghỉ lễ của Công ty nhé ạ!

📣 THÔNG BÁO LỊCH NGHỈ LỄ DỊP GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG VÀ 30/4/2026 - 1/5/2026

Kính gửi Quý khách hàng và Quý đối tác,
Để thuận tiện cho việc liên hệ và sắp xếp công việc, Công ty Luật TNHH Kiều An và Cộng sự xin thông báo lịch nghỉ lễ như sau:

Thời gian nghỉ: Từ ngày 30/04/2026 đến hết ngày 03/05/2026.
Ngày làm việc trở lại: Thứ Hai, ngày 04/05/2026.

Lưu ý đặc biệt: Trong hai ngày 28 & 29/04, văn phòng vẫn làm việc bình thường để hỗ trợ các hồ sơ còn tồn đọng.

🌟 DỊCH VỤ ONLINE KHÔNG NGẮT QUÃNG:
Với mong muốn hỗ trợ tối đa cho Quý khách, trong suốt kỳ nghỉ lễ, đội ngũ Luật sư của Kiều An vẫn tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu tư vấn Online.

Nếu có vấn đề pháp lý cấp bách cần xử lý ngay, Quý khách vui lòng liên hệ:
📞 Hotline: 098 780 4739 - 097 133 8630
🌐 Website: luatkieuan.vn

Kính chúc Quý khách một kỳ nghỉ lễ an nhiên, hạnh phúc bên gia đình!

Trong pháp luật Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo Đ...
25/04/2026

Trong pháp luật Việt Nam, chế độ tài sản của vợ chồng được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
Theo Điều 33, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân (thu nhập, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, tài sản được tặng cho chung…), trừ trường hợp được xác định là tài sản riêng theo Điều 43.
Đáng chú ý, pháp luật cho phép nhập tài sản riêng vào tài sản chung: căn cứ Điều 46 của luật này, vợ chồng có quyền thỏa thuận bằng văn bản về việc nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung; nếu không có thỏa thuận rõ ràng thì việc chứng minh thuộc về bên cho rằng tài sản đó là riêng. Ngoài ra, theo Điều 35, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng, đặc biệt với tài sản có giá trị lớn như bất động sản. Như vậy, pháp luật vừa bảo đảm quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng, vừa đặt ra cơ chế bảo vệ quyền lợi chung, hạn chế tranh chấp phát sinh trong quá trình xác lập và sử dụng tài sản trong hôn nhân.

Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Theo đó, tài sản chung được chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: hoàn cảnh của gia đình và của mỗi bên; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh; và lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Đặc biệt, pháp luật ghi nhận lao động nội trợ cũng được coi như lao động có thu nhập, nên không thể lấy lý do “không làm ra tiền” để chia ít hơn.

Đối với trường hợp nhập tài sản riêng vào tài sản chung, khi tài sản riêng đã được nhập (theo thỏa thuận hợp pháp), thì khi ly hôn, tài sản đó được coi là tài sản chung và áp dụng Điều 59 để chia. Tuy nhiên, yếu tố “công sức đóng góp” sẽ được xem xét, nên người đã đưa tài sản riêng vào có thể được chia phần nhiều hơn nếu chứng minh được đóng góp lớn. Điều này thể hiện nguyên tắc công bằng thực chất, không máy móc chia đôi mà có sự đánh giá toàn diện hoàn cảnh và công sức của các bên.

Giành thắng lợi tại phiên tòa cấp sơ thẩm vụ kiện “ Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn” tại Toà án nhân dân khu vực 5 -...
22/04/2026

Giành thắng lợi tại phiên tòa cấp sơ thẩm vụ kiện “ Tranh chấp tài sản chung sau ly hôn” tại Toà án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long .
Mừng cho chị vì đã nhận được phần tài sản vốn dĩ thuộc về chị !

ÁN LỆ SỐ 02/2016/AL về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày...
17/04/2026

ÁN LỆ SỐ 02/2016/AL
về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
Nguồn án lệ:
Quyết định giám đốc thẩm số 27/2010/DS-GĐT ngày 08-7-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp đòi lại tài sản” tại tỉnh Sóc Trăng giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thảnh với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.
Khái quát nội dung của án lệ:
Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã bỏ tiền ra để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người ở trong nước đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ mình, khi giải quyết tranh chấp thì Tòa án phải xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.
Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:
Điều 137 và Điều 235 của Bộ Luật Dân sự năm 2005.
Từ khóa của án lệ:
“Giao dịch dân sự vô hiệu”; “Đòi lại tài sản”; “Căn cứ xác lập quyền sở hữu”; “Xác lập quyền sở hữu đối với lợi tức”; “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24-01-2005, tờ khai ngày 07-02-2005 và quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Thảnh là nguyên đơn trình bày:
Bà Thảnh là Việt kiều ở Hà Lan về thăm thân nhân tại Việt Nam và có ý định chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên ngày 10-8-1993, bà có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh diện tích 7.595,7m2 đất ruộng tại Phường 7, thị xã Sóc Trăng với giá 21,99 chỉ vàng. Bà là người trực tiếp giao dịch, thỏa thuận việc chuyển nhượng và trả tiền, vàng cho vợ chồng ông Hêng Tính. Mục đích của bà Thảnh là chuyển nhượng đất để giao cho em ruột của bà là ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Chính Em canh tác nuôi cha mẹ của bà và ông Tám. Do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà để cho ông Tám đứng tên trong giấy tờ sang nhượng. Đồng thời, bà Thảnh xuất trình “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993 có xác nhận của UBND xã An Hiệp. Sau khi nhận chuyển nhượng bà để cho vợ chồng ông Tám canh tác, nhưng năm 2004, không được bà đồng ý, ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích 7.595,7m2 đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị quyền sử dụng đất là 1.260.000.000 đồng. Vì vậy, bà yêu cầu ông Tám trả lại số tiền thu được từ việc chuyển nhượng đất của bà.
Ông Nguyễn Văn Tám là bị đơn trình bày:
Diện tích 7.595,7m2 đất mà bà Thảnh tranh chấp là đất do vợ chồng ông là người bỏ tiền, vàng ra sang nhượng lại của vợ chồng ông Hêng Tính, ông là người đứng tên trong “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993. Tờ sang nhượng này không có xác nhận của chính quyền địa phương. Nhưng sau đó, ông và vợ chồng ông Hêng Tính còn ký bản hợp đồng và đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 11-8-1993, các văn bản này có xác nhận của UBND xã An Hiệp và của UBND huyện Mỹ Tú đồng ý cho chuyển nhượng. Sau khi chuyển nhượng ông đã đăng ký, kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28-5-1994. Do đó, năm 2004, ông chuyển nhượng toàn bộ đất trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu với giá trị là 1.260.000.000 đồng. Ông cho rằng “Tờ sang nhượng đất ruộng” lập ngày 10-8-1993, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã An Hiệp do bà Thảnh xuất trình là giả vì theo Bản kết luận giám định số 2784/C21 (P7) ngày 25-10-2005 của Viện Khoa học Hình sự Tổng cục cảnh sát thì không phải chữ ký của ông trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình. Vì vậy, ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Thảnh.
Bà Nguyễn Thị Yêm (vợ của ông Tám) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Năm 1993 vợ chồng bà có chuyển nhượng đất của ông Hêng Tính. Khi làm thủ tục chuyển nhượng bà không tham gia nhưng bà có đưa tiền, vàng cho ông Tám trả cho vợ chồng ông Hêng Tính nên bà cũng không chấp nhận theo yêu cầu của bà Thảnh.
Vợ chồng ông Hêng Tính, bà Lý Thị Sà Quênh (tên gọi khác là Lý Thị Sà Vênh) là người chuyển nhượng đất đều khẳng định bà Thảnh trực tiếp thỏa thuận chuyển nhượng, trực tiếp trả 21,99 chỉ vàng cho ông, bà và bà Thảnh để cho ông Tám đứng tên giùm trong tờ sang nhượng đất ruộng lập ngày 10-8-1993; chữ ký trong tờ sang nhượng đất ruộng do bà Thảnh xuất trình đúng là chữ ký của ông, bà.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng đất.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm phải có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh 630.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí giám định và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10-5-2006, ông Nguyễn Văn Tám kháng cáo cho rằng bà Thảnh không phải là người có quyền sử dụng phần đất mà ông đã chuyển nhượng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Châu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông thanh toán cho bà Thảnh 630.000.000 đồng là không đúng.
Ngày 12-5-2006, ông Nguyễn Hữu Phòng (đại diện cho bà Thảnh) kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử buộc ông Tám trả lại toàn bộ số tiền mà ông Tám đã chuyển nhượng đất là 1.260.000.000 đồng cho bà Thảnh.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thảnh về việc đòi lại tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Buộc ông Nguyễn Văn Tám, bà Nguyễn Thị Yêm có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Thảnh số tiền 27.047.700 đồng tương đương 21,99 chỉ vàng 24k.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Tám và bà Nguyễn Thị Yêm phải nộp lại số tiền 1.232.266.860 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.
Sau xét xử phúc thẩm, ông Nguyễn Văn Tám khiếu nại Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.
Tại Quyết định số 449/2009/KN-DS ngày 21-8-2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DS-PT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật, với nhận định:
“Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện đòi lại tài sản đối với ông Nguyễn Văn Tám và cho rằng do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên bà có nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà nhưng sau đó ông Tám đã chuyển nhượng đất của bà cho người khác.
Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định ông Tám chỉ đứng tên nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng ông Hêng Tính giùm cho bà Thảnh là có căn cứ.
Do bà Thảnh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, nên bà Thảnh không được giao đất mà chỉ được trả lại phần giá trị đầu tư tiền chuyển nhượng đất.
Đối với chênh lệch giá trị đất, thời điểm xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm là thời điểm thi hành Bộ Luật Dân sự năm 2005, không có quy định buộc phải tịch thu sung công quỹ nên khoản chênh lệch này bà Thảnh và ông Tám cùng được hưởng. Tòa án cấp sơ thẩm không buộc ông Tám nộp số tiền chênh lệch giá trị đất để sung công là có căn cứ nhưng không buộc ông Tám trả cho bà Thảnh giá trị đầu tư ban đầu là không đúng. Tòa án cấp phúc thẩm không đưa ra được căn cứ pháp luật nhưng đã buộc ông Tám nộp toàn bộ số tiền chênh lệch (1.232.226.860 đồng) để sung công quỹ Nhà nước là không đúng quy định, của pháp luật”.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định:
Bà Nguyễn Thị Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Tám trả lại cho bà 1.260.000.000 đồng vì cho rằng bà là người trực tiếp giao dịch, trả tiền nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Hêng Tính 7.595,7m2 đất, nhưng vì bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nên nhờ ông Tám (em của bà) đứng tên, nhưng không được bà đồng ý ông Tám đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho Công ty TNHH Minh Châu để nhận 1.260.000.000 đồng.
Ông Tám cho rằng ông là người thỏa thuận chuyển nhượng đất và trả tiền cho ông Hêng Tính, nên giấy tờ chuyển nhượng đất ông đứng tên. Sau khi nhận chuyển nhượng ông trực tiếp quản lý sử dụng, đăng ký kê khai, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi ông chuyển nhượng cho Công ty TNHH Minh Châu được chính quyền cho phép, nên ông không chấp nhận yêu cầu của bà Thảnh.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án vợ chồng ông Tám có nhiều lời khai mâu thuẫn về số tiền, vàng đã trả cho ông Hêng Tính và ông cũng không chứng minh được nguồn gốc nguồn tiền vàng mà ông cho rằng đã trả cho ông Tính.
Trong khi đó vợ chồng ông Tính, bà Quênh khẳng định chỉ thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhận vàng của bà Thảnh còn việc viết giấy chuyển nhượng đất đứng tên ông Tám là theo yêu cầu của bà Thảnh, vì bà Thảnh đang định cư ở nước ngoài.
Theo lời khai của cụ Thái Thị Ba, ông Nguyễn Phước Hoàng, bà Nguyễn Thị Chính Em (là mẹ và anh chị em ruột của bà Thảnh, ông Tám) thì bà Thảnh giao dịch, trả tiền chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Tính, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm.
Tổng hợp các chứng cứ nêu trên có cơ sở khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Thảnh là người bỏ toàn bộ số tiền là 21,99 chỉ vàng để nhận chuyển nhượng diện tích trên, còn ông Tám chỉ là người đứng tên giùm. Do ông Tám đã chuyển nhượng đất trên cho Công ty TNHH Minh Châu và bà Thảnh chỉ yêu cầu ông Tám trả lại số tiền đã chuyển nhượng là 1.260.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận bà Thảnh, ông Tám mỗi người có quyền sở hữu 1/2 số tiền trên nhưng không trích trả cho bà Thảnh số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng là không đúng.
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận bà Thảnh có quyền sở hữu số tiền tương ứng với 21,99 chỉ vàng, còn lợi nhuận là số tiền còn lại tịch thu sung công quỹ nhà nước là không đúng với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, không đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
Ngoài ra, bà Thảnh khởi kiện yêu cầu ông Tám trả cho bà 1.260.000.000 đồng là số tiền ông Tám chuyển nhượng giá trị quyền sử dụng 7.595,7m2 đất, mà không tranh chấp quyền sử dụng đất, còn ông Tám cho rằng số tiền trên là của ông. Như vậy, các đương sự tranh chấp quyền sở hữu tài sản là số tiền nêu trên. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi lại tài sản” là không chính xác.
Bởi các lẽ trên, căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1- Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 334/2006/DSPT ngày 25-8-2006 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2006/DS-ST ngày 28-4-2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về vụ án tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thành với bị đơn là ông Nguyễn Văn Tám; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Yêm.
2- Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ:

“Tuy bà Thảnh là người bỏ 21,99 chỉ vàng để chuyển nhượng đất (tương đương khoảng 27.047.700 đồng). Nhưng giấy tờ chuyển nhượng đứng tên ông Tám và sau khi nhận chuyển nhượng ông Tám quản lý đất, sau đó chuyển nhượng cho người khác. Như vậy, lẽ ra phải xác định ông Tám có công sức trong việc bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất nên phải xác định số tiền trên (sau khi trừ tiền gốc tương đương 21,99 chỉ vàng của bà Thảnh) là lợi nhuận chung của bà Thảnh và ông Tám. Đồng thời xác định công sức của ông Tám để chia cho ông Tám một phần tương ứng với công sức của ông mới đúng và đảm bảo quyền lợi của các đương sự (Trường hợp không xác định được chính xác công sức của ông Tám thì phải xác định bà Thảnh, ông Tám có công sức ngang nhau để chia).”

Quy định pháp luật về xử lý các vi phạm về mại dâm - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiệnLink bài viết hoàn chỉnh tại ...
01/04/2026

Quy định pháp luật về xử lý các vi phạm về mại dâm - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Link bài viết hoàn chỉnh tại Tạp chí tòa án nhân dân: https://tapchitoaan.vn/quy-dinh-phap-luat-ve-xu-ly-cac-vi-pham-ve-mai-dam-mot-so-bat-cap-va-kien-nghi-hoan-thien15271.html
Chia sẻ Mại dâm là một trong các tệ nạn xã hội phổ biến, gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực về an ninh trật tự, thuần phong mỹ tục và sức khỏe, tính mạng con người. Để phòng, chống các vi phạm pháp luật về mại dâm, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để quy định biện pháp xử lý các hành vi vi phạm về mại dâm.
Đặt vấn đề

Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, tệ nạn mại dâm vẫn là một vấn đề phức tạp, gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực đối với trật tự xã hội, đạo đức cộng đồng và sức khỏe của người dân. Mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam đã ban hành nhiều quy định nhằm phòng, chống và xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm, song trong quá trình áp dụng trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều hạn chế và bất cập nhất định. Một số quy định chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, thiếu tính đồng bộ, hoặc còn gặp khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, dẫn đến hiệu quả xử lý vi phạm chưa đạt như kỳ vọng. Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về xử lý các vi phạm liên quan đến mại dâm là cần thiết nhằm nhận diện rõ những điểm còn hạn chế trong hệ thống pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành về các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm, đồng thời chỉ ra những bất cập, hạn chế trong quy định và thực tiễn áp dụng. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và xử lý các vi phạm về mại dâm trong thời gian tới.

1. Tình hình vi phạm pháp luật về mại dâm ở Việt Nam và nguyên nhân

Báo cáo tổng hợp công tác phòng, chống mại dâm năm 2023 và phương hướng nhiệm vụ năm 2024 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đánh giá tệ nạn mại dâm hiện nay vẫn diễn biến phức tạp cả về tính chất lẫn quy mô hoạt động. Trên địa bàn cả nước, ước tính có 9.596 người bán dâm. Tuy nhiên, con số thực tế có thể cao hơn rất nhiều do tính chất phức tạp, biến động, tinh vi và trá hình của hoạt động mại dâm. Tình hình mại dâm nơi công cộng hiện nay có chiều hướng giảm, ít lộ liễu công khai so với trước đây. Hoạt động mại dâm có xu hướng dịch chuyển sang hình thức biến tướng như “sugar daddy”, “sugar baby”; mại dâm núp bóng bằng các hình thức kích dục, cho nữ vũ công múa khỏa thân, khiêu dâm trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhà hàng, quán cà phê đèn mờ, cà phê chòi, karaoke, massage, quán bar, vũ trường hoạt động chủ yếu ở các địa phương có khu công nghiệp tập trung. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh... có sự xuất hiện của các đối tượng người nước ngoài vào góp vốn thành lập các nhà hàng, khách sạn, vũ trường chuyên phục vụ cho khách nước ngoài nhưng thực chất là hoạt động mại dâm trá hình[1].

Theo số liệu thống kê của Công an TP. Hồ Chí Minh vào năm 2025, trên địa bàn thành phố có 4.033 cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn mại dâm gồm: 2.381 cơ sở lưu trú; 1.141 nhà hàng, karaoke và cơ sở massage; 16 vũ trường, bar, beer club, công ty giải trí biến tướng thành bar; 495 cơ sở kinh doanh dịch vụ khác (gồm 193 cơ sở kinh doanh dịch vụ cà phê DJ, cà phê đèn mờ có tiếp viên nữ và 293 cơ sở kinh doanh dịch vụ hớt tóc thanh nữ và 9 cơ sở kinh doanh dịch vụ khác). Trong số này, 410 cơ sở nghi vấn có hoạt động mại dâm và 851 cơ sở nghi vấn hoạt động khiêu dâm, kích dục, với tổng cộng 12.472 nhân viên, trong đó 672 người nghi vấn bán dâm và 4.145 người nghi liên quan đến các hành vi khiêu dâm, kích dục. Tổng số người bán dâm trên địa bàn ước tính khoảng 864 người, giảm 338 người so với cùng kỳ năm 2024. Trong 6 tháng đầu năm 2025, lực lượng chức năng đã tổ chức 1.467 lượt kiểm tra, phát hiện 245 cơ sở vi phạm hành chính liên quan đến văn hóa, thông tin và phòng, chống tệ nạn xã hội. Kết quả, 243 cơ sở bị phạt tiền với tổng số tiền hơn 3,34 tỷ đồng. Đồng thời, qua 145 lượt truy quét tại các khu vực công cộng, cơ quan chức năng phát hiện bốn người vi phạm; triệt phá 62 vụ tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ, phát hiện 390 người vi phạm, bao gồm 148 người mua dâm, 163 người bán dâm và 79 chủ chứa, môi giới. Tổng cộng 313 người bị xử lý hành chính và 77 người bị lập hồ sơ xử lý hình sự[2]. Đáng lưu ý, không chỉ phụ nữ, hiện nay tình trạng mại dâm nam, mại dâm đồng giới, mại dâm chuyển giới cũng xuất hiện nhưng chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để xử lý. Các hành vi khiêu dâm, kích dục trá hình trong spa, massage, quán karaoke… vẫn tồn tại dai dẳng và ngày càng khó kiểm soát.

Các vi phạm pháp luật về mại dâm ở Việt Nam xuất phát từ một số nguyên nhân chính sau đây:

Thứ nhất, nguyên nhân liên quan đến kinh tế - xã hội. Các vi phạm về mại dâm ngày càng gia tăng, trước hết bắt nguồn từ sự phát triển của các tệ nạn xã hội trong đời sống hiện nay. Một bộ phận người dân có xu hướng chạy theo lối sống hưởng thụ, tìm cách thỏa mãn nhu cầu cá nhân bằng những hành vi không lành mạnh như mua dâm. Khi nhu cầu mua dâm gia tăng, các hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm cũng có xu hướng tăng theo nhằm đáp ứng nhu cầu đó. Đây là hệ quả tất yếu của quy luật cung - cầu trong xã hội.

Bên cạnh đó, tình trạng thất nghiệp hoặc việc làm không ổn định khiến nhiều người rơi vào hoàn cảnh thiếu thốn về kinh tế, thu nhập bấp bênh. Điều này khiến họ dễ bị cám dỗ và tham gia vào các hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm vì cho rằng đây là cách kiếm tiền nhanh chóng và dễ dàng. Ngoài ra, những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường cũng làm nảy sinh tâm lý đề cao giá trị vật chất, coi trọng đồng tiền quá mức. Từ đó, một số người sẵn sàng tìm kiếm lợi ích kinh tế bằng mọi cách, kể cả việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về mại dâm. Thực tế cho thấy, phần lớn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này đều xuất phát từ mục đích vụ lợi về kinh tế[3].

Thứ hai, nguyên nhân liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật. Trong thời gian qua, hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật về phòng, chống mại dâm vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, từ đó góp phần làm gia tăng các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này. Việc tuyên truyền pháp luật ở nhiều nơi chưa được triển khai một cách thường xuyên, liên tục và thiếu sự đầu tư về nội dung cũng như phương thức thực hiện. Công tác này chưa tập trung đúng mức vào các địa bàn trọng điểm nên hiệu quả đạt được còn hạn chế. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các môi trường giáo dục như gia đình, nhà trường và xã hội trong việc định hướng nhận thức, giáo dục đạo đức và ý thức pháp luật cho cá nhân vẫn chưa thật sự chặt chẽ. Điều này khiến một bộ phận người dân, đặc biệt là những người dễ bị tác động, có nguy cơ bị lôi kéo, dụ dỗ tham gia vào các hành vi vi phạm pháp luật nói chung và các vi phạm liên quan đến mại dâm nói riêng.

Thứ ba, nguyên nhân xuất phát từ những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn xã hội. Trong thực tế, hoạt động quản lý nhân khẩu, hộ khẩu tại một số địa phương vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa được thực hiện chặt chẽ và hiệu quả. Ở nhiều nơi, chính quyền và lực lượng công an địa phương chưa thực sự phát huy tốt vai trò trong việc quản lý, kiểm soát các đối tượng có nguy cơ vi phạm pháp luật. Sự phát triển của internet và mạng xã hội đã khiến các hoạt động liên quan đến mại dâm ngày càng có xu hướng chuyển sang môi trường trực tuyến, với phương thức hoạt động ngày càng tinh vi và khó kiểm soát. Tuy nhiên, các biện pháp ngăn chặn hiện nay vẫn chưa mang tính toàn diện và hiệu quả lâu dài. Việc phát hiện và xử lý các hành vi này gặp nhiều khó khăn do công tác quản lý, giám sát các website và nền tảng mạng xã hội đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan, tổ chức và lực lượng chức năng. Đồng thời, công tác quản lý người bán dâm, kiểm soát các trang web có nội dung nhạy cảm, cũng như hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nhiều hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm có thể diễn ra trong thời gian dài nhưng khó bị phát hiện và xử lý kịp thời.

Thứ tư, nguyên nhân liên quan đến chính sách và hệ thống pháp luật về mại dâm. Hiện nay, đối với hành vi mua dâm và bán dâm (ngoại trừ trường hợp mua dâm người dưới 18 tuổi), các đối tượng chủ yếu chỉ bị xử phạt hành chính. Mức xử phạt này chưa đủ mạnh để tạo tính răn đe cần thiết, trong khi đây là những hành vi cần được xử lý nghiêm nhằm hạn chế sự gia tăng của tệ nạn mại dâm cũng như các loại tội phạm liên quan[4]. Bên cạnh đó, việc quản lý và cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống hoạt động mại dâm tại các cơ sở kinh doanh có điều kiện.

2. Thực trạng quy định pháp luật về xử lý các vi phạm về mại dâm

Tệ nạn mại dâm có ảnh hưởng tiêu cực trên hầu hết các phương diện (xã hội, kinh tế, sức khỏe con người). Với những ảnh hưởng tiêu cực đó của tệ nạn mại dâm đối với xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngăn chặn tình trạng trên, nhưng chưa đem lại kết quả như mong muốn[5]. Để góp phần bảo vệ truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, danh dự, nhân phẩm của con người, hạnh phúc gia đình, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, xây dựng và phát triển con người Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 để quy định những biện pháp phòng, chống mại dâm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong phòng, chống mại dâm.

Theo Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003, các hành vi liên quan đến mại dâm như mua dâm; bán dâm; chứa mại dâm; tổ chức hoạt động mại dâm; cưỡng bức bán dâm; môi giới mại dâm; bảo kê mại dâm; lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm là các hành vi bị nghiêm cấm[6]. Các vi phạm pháp luật về mại dâm tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 282/2025/NĐ-CP) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Mặc dù đã có quy định tương đối cụ thể song các biện pháp xử lý các vi phạm pháp luật về mại dâm hiện nay vẫn còn tồn tại những vướng mắc nhất định.

Thứ nhất, mức tiền phạt hành chính áp dụng đối với các vi phạm về mại dâm còn quá thấp, chưa đủ sức răn đe.

Điều 32 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định người nào có hành vi mua dâm sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng; trong trường hợp mua dâm từ 02 người trở lên cùng một lúc sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Trong khi đó, Điều 33 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định người nào có hành vi bán dâm sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng; trong trường hợp bán dâm cho 02 người trở lên cùng một lúc sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Có thể thấy rằng các mức xử phạt này tương đối thấp so với lợi ích kinh tế mà hành vi mua bán dâm có thể mang lại, do đó chưa tạo được áp lực pháp lý đủ mạnh để phòng ngừa và răn đe.

Điển hình vào năm 2023, Phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP. Hồ Chí Minh phát hiện đường dây môi giới mại dâm quy mô lớn với thành phần là người mẫu, hoa khôi, hoa hậu trong các cuộc thi sắc đẹp với giá bán dâm mỗi lần từ 45 triệu đồng đến hơn 200 triệu đồng (từ 2.000 USD đến 10.000 USD)[7]. Chính vì có mức thu nhập cao như vậy nên các cô gái bán dâm này sẵn sàng nộp phạt 300.000 đồng đến 500.000 đồng để tiếp tục vi phạm. Đối với người mua dâm, mặc dù mức xử phạt được quy định cao hơn so với người bán dâm nhưng trên thực tế vẫn chưa đủ sức tác động mạnh để đạt được mục đích trừng phạt và răn đe. Theo quy định hiện hành, người có hành vi mua dâm sẽ bị phạt tối đa 2.000.000 đồng; nếu mua dâm từ 02 người trở lên trong cùng một thời điểm thì mức phạt cao nhất cũng chỉ 5.000.000 đồng. Ngoài ra, phần lớn các hành vi mua dâm, bán dâm hiện nay chỉ bị xử lý bằng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này dễ dẫn đến tâm lý xem nhẹ quy định pháp luật, khi nhiều người sẵn sàng nộp phạt rồi tiếp tục tái phạm do mức chế tài chưa đủ nghiêm khắc[8]. Chính vì vậy, tình trạng mua bán dâm vẫn tái diễn và phát sinh phức tạp trong xã hội, đặt ra yêu cầu cần xem xét điều chỉnh mức xử phạt hoặc áp dụng các biện pháp quản lý, giáo dục, hỗ trợ phù hợp hơn nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tệ nạn này.

Thứ hai, một số vi phạm về mại dâm có sự trùng lặp với nhau nhưng bị xử phạt khác nhau.

Khoản 8 Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 quy định “bảo kê mại dâm” là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm. Như vậy, hành vi “bảo kê mại dâm” tồn tại dưới hai dạng sau đây: (i) lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm; (ii) dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm. Thế nhưng, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP lại có những mức phạt khác nhau đối với các dạng hành vi bảo kê mại dâm.

Cụ thể, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định hành vi che giấu, bảo kê cho các hành vi mua dâm, bán dâm sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (khoản 2 Điều 34). Trong khi đó, các hành vi là biểu hiện cụ thể của hành vi “bảo kê mại dâm” lại được quy định với những mức phạt khác cao hơn. Cụ thể, hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm” sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (điểm a khoản 4 Điều 34), còn hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm” sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng (khoản 5 Điều 34). Như vậy, có thể thấy rằng, cùng một dạng hành vi với bản chất như nhau nhưng Nghị định số 282/2025/NĐ-CP lại quy định thành 3 nhóm vi phạm với 3 khung tiền phạt khác nhau là không hợp lý. Bất cập này có thể tạo ra sự lạm dụng và thiếu nhất quán trong quá trình xử phạt đối với các vi phạm về “bảo kê mại dâm” trên thực tế bởi lẽ việc xử phạt theo quy định nào hoàn toàn phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người có thẩm quyền, trong khi mức tiền phạt áp dụng khác nhau sẽ gây ra những thiệt hại nhất định đến lợi ích vật chất của người bị xử phạt.

Thứ ba, chưa có sự phân định rõ ràng biện pháp xử lý đối với hành vi môi giới mại dâm.

Môi giới mại dâm là hoạt động của một cá nhân hoặc tổ chức trung gian, được gọi là môi giới, nhằm tạo ra sự gặp gỡ và giao dịch giữa người môi giới và các bên tham gia trong hoạt động mại dâm. Môi giới mại dâm có thể là người đàn ông, phụ nữ hoặc tổ chức, vai trò của họ là kết nối khách hàng (người mua dâm) với người bán dâm. Môi giới mại dâm thường thực hiện các nhiệm vụ như tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm người bán dâm, điều phối cuộc hẹn và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các bên tham gia. Môi giới mại dâm có thể hoạt động trong các hình thức khác nhau, từ môi giới cá nhân nhỏ lẻ đến các tổ chức lớn với quy mô quốc tế[9].

Theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 thì hành vi môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Hành vi môi giới mại dâm được thể hiện bằng các hành vi:

Một là, làm trung gian dụ dỗ để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Tức là có hành vi dụ dỗ người mại dâm (gồm cả người mua dâm và người bán dâm) bằng lời nói hoặc các thủ đoạn khác (gợi ý, đưa ra các điều kiện về kinh tế, kích thích sự ham muốn...) để rủ rê, lôi kéo, kích động đến người khác để họ đồng ý thực hiện hành vi mua dâm hoặc bán dâm.

Hai là, làm trung gian dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm. Được hiểu là hành vi làm người trung gian tạo điều kiện tiếp xúc, gặp gỡ giữa người mua dâm và người bán dâm như làm trung gian giao dịch trong việc mua bán dâm (thỏa thuận giá cả và các điều kiện khác như: thời gian, địa điểm để đưa đón, bố trí cho người mua, bán dâm gặp nhau) hoặc dắt mối cho người bán dâm hoặc mua dâm; tổ chức để người mua dâm và người bán dâm gặp nhau; đứng ra thu tiền mua dâm và phân chia tiền bán dâm[10].

Theo quy định của pháp luật hiện hành, hành vi môi giới mại dâm có thể bị xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Theo điểm c khoản 4 Điều 34 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP, hành vi “môi giới mua dâm, bán dâm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Trong khi đó, Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Nếu hành vi được thực hiện trong các trường hợp gồm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; phạm tội 02 lần trở lên; đối với 02 người trở lên; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Nếu hành vi được thực hiện trong trường hợp gồm đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Phân tích các quy định trên có thể thấy trong trường hợp này đã có sự trùng lặp về chế tài giữa hành chính và hình sự khi xử lý hành vi môi giới mại dâm. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định chỉ cần có hành vi làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm là thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội môi giới mại dâm. Vậy khi nào thì hành vi “môi giới mua dâm, bán dâm” được xem là “chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” để xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Câu hỏi này hiện nay chưa có quy định pháp luật cụ thể để phân định, điều này sẽ gây ra khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền khi áp dụng pháp luật trên thực tế bởi lẽ trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự là hai loại trách nhiệm pháp lý hoàn toàn độc lập với nhau. Thậm chí, sự bất cập này còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều khiếu nại, khởi kiện liên quan đến việc áp dụng pháp luật đối với hành vi môi giới mại dâm, từ đó làm giảm hiệu quả của việc đấu tranh, phòng, chống vi phạm pháp luật.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý các vi phạm về mại dâm

Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả phòng, chống tệ nạn mại dâm, các nhà làm luật cần xem xét điều chỉnh tăng mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính liên quan đến mại dâm, nhằm bảo đảm tính răn đe và góp phần hạn chế các hành vi vi phạm tái diễn. Tuy nhiên, việc tăng mức xử phạt cần được thực hiện một cách thận trọng, hợp lý, tránh tình trạng lạm dụng chế tài hoặc quy định mức phạt quá cao nhưng không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và thực tiễn thi hành pháp luật. Do đó, khi sửa đổi các quy định liên quan, cơ quan lập pháp cần căn cứ vào tình hình vi phạm thực tế, mức độ nguy hiểm của hành vi và khả năng thi hành trong thực tiễn để xây dựng mức phạt phù hợp. Đồng thời, cần phân hóa rõ trách nhiệm hành chính đối với từng hành vi vi phạm cụ thể trong lĩnh vực mại dâm, dựa trên các tiêu chí như giá trị giao dịch mua bán dâm, số lượng người tham gia, mức độ tổ chức, số lần vi phạm hoặc tái phạm, qua đó bảo đảm việc xử phạt vừa công bằng, vừa có tác dụng phòng ngừa và răn đe hiệu quả. Bên cạnh việc tăng mức phạt, cũng cần kết hợp với các biện pháp quản lý, giáo dục và hỗ trợ xã hội, đặc biệt đối với những người bán dâm có hoàn cảnh khó khăn, nhằm góp phần giải quyết tận gốc các nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này.

Thứ hai, để loại bỏ tình trạng các hành vi vi phạm về mại dâm có cùng bản chất nhưng lại được quy định thành các vi phạm khác nhau với mức tiền phạt chênh lệch đáng kể, Chính phủ cần tiến hành rà soát một cách toàn diện và kỹ lưỡng các quy định liên quan đến hành vi “bảo kê mại dâm” đang bị xử phạt vi phạm hành chính trong Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, cần xác định rõ những quy định có sự trùng lặp về nội hàm, phạm vi điều chỉnh hoặc bản chất hành vi để loại bỏ các quy định không còn phù hợp, đồng thời thống nhất lại cách phân loại hành vi vi phạm và khung xử phạt tương ứng. Việc rà soát và điều chỉnh này không chỉ góp phần bảo đảm tính minh bạch, thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn tránh tình trạng áp dụng pháp luật thiếu nhất quán trong thực tiễn xử lý vi phạm, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo đảm tính công bằng, răn đe của chế tài xử phạt.

Thứ ba, đối với hành vi môi giới mại dâm, do có sự trùng lắp giữa Nghị định số 282/2025/NĐ-CP với Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) nên cần có sự thống nhất trong đường lối xử lý. Minh định giữa xử phạt hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi “môi giới mại dâm” không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh, phòng, chống vi phạm này mà còn hạn chế tình trạng nhập nhằng “hành chính hóa các vi phạm hình sự” hoặc “hình sự hóa các vi phạm hành chính”. Do đó, để đấu tranh hiệu quả đối với hành vi môi giới mại dâm cần tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự về tội môi giới mại dâm theo Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), thay vào đó Chính phủ sẽ bãi bỏ quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “môi giới mua dâm, bán dâm” tại điểm c khoản 4 Điều 34 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP để tránh sự chồng chéo, trùng lắp trong hệ thống pháp luật.

Kết luận

Tình hình vi phạm pháp luật liên quan đến mại dâm tại Việt Nam vẫn diễn biến phức tạp với nhiều phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, chịu tác động từ các yếu tố kinh tế, xã hội và nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân. Bên cạnh đó, hệ thống quy định pháp luật về xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến mại dâm tuy đã được ban hành khá đầy đủ nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như chưa theo kịp thực tiễn, một số chế tài chưa đủ sức răn đe và còn khó khăn trong quá trình áp dụng. Trên cơ sở đó, bài viết đã đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa và xử lý vi phạm, đồng thời bảo đảm trật tự xã hội và phù hợp với thực tiễn hiện nay.

Address

Thành Phố Bến Tre
Ben Tre
02753

Telephone

+84369052901

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Duyên LAW posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share