19/05/2026
Khởi tố "đối tượng thụ hưởng"
Nếu cơ quan điều tra thu thập đủ chứng cứ chứng minh hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì việc khởi tố chỉ còn là vấn đề thời gian. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 2 hành vi khác nhau.
Trong tố tụng hình sự việc một người ban đầu chỉ bị xử lý hành chính nhưng sau đó bị khởi tố bị can không phải là điều bất thường. Đây là diễn biến tố tụng phụ thuộc vào quá trình thu thập, đánh giá và củng cố chứng cứ.
Ở thời điểm ban đầu nếu cơ quan điều tra mới xác định được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì việc áp dụng chế tài hành chính là hướng xử lý phù hợp ngoại trừ trường hợp phải khởi tố theo Điều 256a như tôi đã chia sẻ trong bài viết hôm trước.
Vì vậy việc ban đầu Miu Lê không bị khởi tố hình sự mà được xem xét xử lý theo hướng hành chính không phải là một sự nương tay. Đó là áp dụng đúng luật. Khi hồ sơ chưa có chứng cứ về một tội danh nào khác và bản thân hành vi sử dụng không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của Điều 256a thì cơ quan điều tra không có căn cứ để khởi tố. Pháp luật hình sự không cho phép khởi tố một người chỉ vì người đó nổi tiếng hay vì dư luận muốn như vậy.
Ngày 13/5, cơ quan điều tra khởi tố vụ án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó từng bị can bị khởi tố theo từng đợt khi chứng cứ được củng cố và Miu Lê nằm trong đợt sau cùng. Khoảng cách thời gian này không phải dấu hiệu của sự ưu ái hay làm khó mà là hệ quả trực tiếp của một nguyên tắc tố tụng.
Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cơ quan điều tra chỉ ra quyết định khởi tố bị can khi có đủ căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Khởi tố vụ án xác định “có tội phạm xảy ra”, còn khởi tố bị can xác định “ai đã thực hiện”. Hai việc đó khác nhau về cả thời điểm lẫn mức độ chứng cứ. Một người có mặt tại hiện trường, thậm chí dương tính với ma túy, vẫn chưa đủ để bị khởi tố về tội tổ chức sử dụng, vì cơ quan điều tra còn phải chứng minh được vai trò tổ chức cụ thể.
Với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vấn đề mấu chốt không nằm ở việc người đó có sử dụng ma túy hay không, mà là có hành vi chuẩn bị, rủ rê, bố trí địa điểm, cung cấp ma túy, cung cấp dụng cụ hoặc điều hành việc sử dụng ma túy cho người khác hay không. Khi cơ quan điều tra có đủ chứng cứ hợp pháp để chứng minh các dấu hiệu này thì việc khởi tố bị can là hoàn toàn bình thường.
Việc chưa bị khởi tố ở một thời điểm không có nghĩa là người đó chắc chắn không bị xử lý hình sự về sau. Trong tố tụng hình sự nhiều vụ án phải đi theo từng bước: phát hiện hành vi, xác minh ban đầu, khởi tố vụ án, mở rộng điều tra, phân hóa vai trò từng người rồi mới khởi tố bị can đối với từng cá nhân.
Vì vậy việc Miu Lê bị khởi tố sau đó không phải là sự quay xe khó hiểu của cơ quan điều tra mà là kết quả của quá trình cơ quan điều tra đánh giá thêm chứng cứ và xác định vai trò pháp lý cụ thể của từng người trong vụ án.
Nói chung chỉ dựa vào thông tin dương tính với ma túy thì chưa thể kết luận một người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng ngược lại cũng không thể vì ban đầu họ chưa bị khởi tố mà khẳng định họ chỉ vi phạm hành chính.
Ranh giới giữa người sử dụng và người tổ chức sử dụng nằm ở chứng cứ về vai trò, hành vi và ý chí tham gia. Đây là ranh giới pháp lý rất quan trọng. Nói quá sớm dễ oan cho người chưa bị chứng minh có tội. Nói quá nhẹ cũng dễ làm sai bản chất vụ án. Mọi kết luận phải đặt trên chứng cứ hợp pháp và quyết định của cơ quan tố tụng.
Khởi tố bị can không phải là kết tội và tạm giam là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng chứ không phải hình phạt. Theo Điều 31 Hiến pháp năm 2013 và Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì một người chỉ bị coi là có tội khi có bản án kết tội có hiệu lực của tòa án. Ở thời điểm này Miu Lê là bị can, không phải người phạm tội. Miu Lê chỉ có tội khi toà tuyên án và bản án có hiệu lực pháp luật.