09/15/2021
KHÔNG KẾT HÔN CÓ PHẢI CẤP DƯỠNG CHO CON KHÔNG?
1. Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:“Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này”. Và theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”
Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ không phụ thuộc vào việc bạn và anh ấy có đăng ký kết hôn hay không, chỉ cần xác định rằng anh ấy là cha của con bạn thì có thể yêu cầu anh ấy cấp dưỡng.
2. Nếu như bạn chưa có các giấy tờ xác định mối quan hệ huyết thống cha con giữa anh ấy và con bạn thì trước tiên bạn cần yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định quan hệ cha con giữa hai người họ.
Căn cứ theo:
• Điều 14. Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây theo Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định:
1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.
2. Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư này, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.
• Điều 25. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con theo Luật hộ tịch năm 2014
1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.
3. Trong trường hợp anh ấy không tự nguyện cấp dưỡng thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án buộc anh ấy phải thực hiện nghĩa vụ đó theo quy định tại khoản 1 Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó”.