Phạm Tài Sở hữu trí tuệ

โทร เส้นทาง เว็บไซต์

Phạm Tài Sở hữu trí tuệ Tạp chí điện tử, sở hữu trí tuệ & sáng tạo. sohuutritue.net.vn ขายสินค้าราคาถูก ส่งตรงถึงบ้าน โดย เคอรี่, แฟลช, ฯลฯ

10/10/2026

Chào mừng ngày Giải phóng Thủ Đô 10/10/1954.

Hà Nội như được nghỉ ngơi ... Thêm chút heo may ...

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi từng viết về mùa thu Hà Nội năm 1946:

Những phố dài xao xác heo may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy ...

Đổi mới sáng tạo Make in Vietnam - Kỳ 1Cứu cầu như cứu người, nhưng trước hết là cứu mình khỏi lối mònNghề báo gần ba mư...
10/10/2026

Đổi mới sáng tạo Make in Vietnam - Kỳ 1

Cứu cầu như cứu người, nhưng trước hết là cứu mình khỏi lối mòn

Nghề báo gần ba mươi năm, thú thật tôi rất ít khi đi dự sự kiện, phần vì ngại kịch bản na ná nhau, phần vì tin rằng chuyện hay thường nằm ngoài sân khấu. Nhưng lễ kỷ niệm 15 năm thành lập Công ty Cổ phần SBTECH cuối tháng 9 vừa qua là một ngoại lệ.

Không phải vì tôi tò mò một doanh nghiệp xây dựng (ngành này ở Việt Nam không thiếu người giỏi) mà vì tiết lộ của một cựu quan chức Tổng cục Đường bộ ngồi cùng bàn: lĩnh vực của SBTech nhiều người không ưa, họ cứu 400 cây cầu thì gần 10%, có khoảng 30 cây đã có kế hoạch phá dỡ, đã có ngân sách, thậm chí đã đấu thầu xong, thì cầu lại được họ... cứu!

Đang đỡ câu chuyện thì diễn ra một khoảnh khắc trên sân khấu: một lẵng hoa lớn, dải băng đỏ ghi tên người tặng, được đích thân mang lên trao tận tay ông Vũ Văn Thành (người mà giới cầu đường gọi vui là "pháp sư của những cây cầu"). Người trao hoa là ông Nguyễn Chí Dũng, người từng giữ cương vị Phó Thủ tướng phụ trách mảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong giai đoạn 2025–2026. Một lãnh đạo từng ở tầm vóc Chính phủ, đi dự sinh nhật một công ty tư nhân chuyên... cứu cầu? Câu hỏi ấy kéo tôi ở lại hết buổi lễ, và hôm sau, kéo tôi đến văn phòng ông Thành để hỏi cho ra nhẽ.

Từ một dầm cầu ở Huế đến hai mươi ba năm bục giảng

Tôi đã đặt câu hỏi về sự "không ưa" mà vị ở Tổng cục Đường bộ tiết lộ với ông Thành, ông không chỉ xác nhận mà còn nói "tôi còn bị nhà thầu gọi điện đe doạ. Họ bảo "gà nhốt rồi, sao mày dám thả?". Và 15 năm cứu cầu, ông Thành cùng các thầy cô ở Đại học GTVT, ĐH Thuỷ lợi giúp tiết kiệm cho nhà nước hàng ngàn tỷ đồng.

Vì thế, trở lại câu chuyện hình thành SBTECH, nếu kể đúng thứ tự, phải bắt đầu từ một nghịch lý: người đặt nền móng cho nó khi ông Thành đang là giảng viên Bộ môn Sức bền vật liệu, Đại học Giao thông Vận tải, nhưng đơn đặt hàng nghiên cứu đầu tiên khiến ông "phát hiện ra mỏ vàng" composite FRP lại đến từ ngành Thủy lợi. Năm 2009, Viện Khoa học Kinh tế Thủy lợi thuê ông thực hiện một đề tài cấp nhà nước về gia cường cống ngầm bằng vật liệu composite cốt sợi. Trong lúc mày mò, ông nhận ra thứ vật liệu ấy có thể "cứu" trực tiếp những dầm cầu bêtông bị nứt, thủng, mà không cần đập bỏ.

"Tôi dạy Sức bền vật liệu 23 năm ở Giao thông Vận tải", ông kể, "nhưng đến lúc việc tư vấn, sửa chữa thực tế bận quá, tôi xin nghỉ hẳn, bước ra khỏi cái vỏ bọc an toàn của trường viện." Cú rẽ ấy, theo lời ông, không phải bỏ nghề giáo mà là đổi cách dạy: từ bục giảng sang công trường.

Công trình thực chiến đầu tiên là một dầm cầu Thừa Lưu (Huế) bị đứt cáp dự ứng lực. Sau đó là chuỗi 13 cây cầu trên Quốc lộ 70, cầu Tràng ở Hưng Yên, dự án khiến ông và cộng sự quyết định lập công ty, lấy tên SBTECH, viết tắt của "Sức bền". Công ty chính thức ra đời tháng 9/2011, với đội ngũ ban đầu gần như nguyên xi là giảng viên bộ môn cũ, dưới sự cố vấn của các giáo sư Vũ Đình Lai, Nguyễn Xuân Lựu, Phạm Ngọc Khánh.

Mười lăm năm sau, SBTECH và các cộng sự đã tham gia sửa chữa, gia cường gần 400 cây cầu trên khắp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, với kinh phí ở nhiều dự án chỉ bằng khoảng 15% phương án phá bỏ xây mới. Ông Thành nói con số cụ thể: bao nhiêu công trình đã "thoát" kế hoạch đập bỏ, đấu thầu xây mới... lớn hơn nhiều so với những gì báo chí từng đăng...

Vòng tròn khép kín: Thủy lợi – Giao thông – lại về Thủy lợi

Điều khiến câu chuyện SBTECH khác với một case-study kinh doanh thông thường nằm ở một chi tiết ông Thành kể với vẻ tự hào rõ rệt: ông vừa nhận lời mời của Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi để sáng lập và đồng thời làm Trưởng bộ môn Bệnh học công trình, một ngành mà, theo ông, chưa trường đại học nào ở Việt Nam có.

"Cái duyên nợ nó lạ", ông cười, "xuất phát điểm là nghiên cứu thuê cho Thủy lợi, đi giải cứu công trình Giao thông, giờ lại quay về dựng ngành cho Thủy lợi." Đây chính là hình hài rõ nhất của mô hình "ba nhà" — nhà khoa học, nhà trường, nhà doanh nghiệp — mà các nghị quyết gần đây về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục đào tạo vẫn nhắc tới như một đích đến còn nhiều nơi loay hoay chưa tới được: tri thức đi từ phòng thí nghiệm ra công trường, rồi từ công trường quay lại nuôi dưỡng phòng thí nghiệm và giảng đường, chứ không chảy một chiều.

Bộ môn mới, theo mô tả của ông Thành, không nhằm phục vụ lợi ích riêng của một doanh nghiệp mà hướng tới "tầm vóc quốc gia": đào tạo ra đội ngũ kỹ sư đủ năng lực chẩn đoán đúng bệnh công trình, tránh tình trạng sửa sai, đập bỏ lãng phí ngân sách nhà nước. Chương trình được xây trên nền kỹ thuật công trình chung, cộng thêm khoảng 15 tín chỉ chuyên sâu tự biên soạn: phương pháp chẩn đoán bệnh học, đo đạc ứng suất biến dạng, vận hành thiết bị chẩn đoán. Ông ví đây là ngành khó nhất trong khối kỹ sư công trình, đòi hỏi nền tảng Toán – Lý – Cơ học – Hóa học cực tốt, và so sánh mô hình đào tạo với bác sĩ nội trú hay chuyên khoa II trong y khoa, nơi người giỏi nhất mới được đứng mổ tim.

Một mảnh ghép "nhà trường" khác, ít được biết đến hơn, là việc ông dựng khoa Kiến trúc – Xây dựng cho Đại học Intracom, theo lời mời của Chủ tịch Tập đoàn Intracom Nguyễn Thanh Việt — vốn là học viên cao học cũ do ông hướng dẫn. Ở đây, ông mang vào một triết lý đào tạo khác hẳn số đông: lấy vấn đề làm trung tâm thay vì thầy cầm tay chỉ việc, học sâu ít môn nền tảng theo tinh thần trường Bách khoa Paris thay vì dàn trải, rút khung chương trình kỹ sư từ 180 xuống 150 tín chỉ nhưng đẩy mạnh 70% điểm quá trình so với 30% thi cuối kỳ.

Những cuộc "cãi vã cứu cầu"

Nhưng phần hấp dẫn nhất trong câu chuyện của ông Thành, tôi nhận ra, không nằm ở mô hình hay chính sách, mà ở những trận đối đầu trực diện với chính giới chuyên môn, nơi ông sẵn sàng đặt cược cả uy tín để bảo vệ một kết luận kỹ thuật.

Ở cầu Đà Rằng (Phú Yên), khi gối cầu bị trôi làm sệ dầm, một số chuyên gia phán trên báo chí rằng nguyên nhân là do xe phanh gấp đẩy gối. Ông Thành chỉ ra điều vô lý: nếu vậy tại sao cùng một cầu, có gối trôi có gối không? Ông xác định đây là bài toán biến dạng nhiệt kết hợp cơ học, rồi tự bỏ tiền mua dàn kích nâng cầu, âm thầm cho đội ngũ kích thử ngay trong đêm, trước cả buổi quay hình đã hẹn với truyền hình hôm sau. Giải pháp cuối cùng: một đĩa thép đục lỗ rót keo epoxy lót dưới gối cao su, giúp gối vẫn di động đúng nguyên lý mà không trôi: cầu chạy ổn định hơn mười năm.

Căng thẳng hơn là vụ cầu vượt Nguyễn Hữu Cảnh ở TP HCM, khi cáp dự ứng lực ngầm bị cắt đứt trong quá trình thi công hệ thống cống thoát nước lân cận, khiến dầm cầu bị võng. Hội đồng chuyên gia khi đó nghiêng về phương án cấm cầu, thậm chí đập bỏ: một phó giáo sư trưởng một bộ môn liên quan dẫn tiêu chuẩn thử tải 1/800 để đòi đập, một cựu Viện trưởng khác lấy lý do "8 chân trụ nứt" để đòi đóng cầu. Ông Thành phản biện bằng cách phân biệt các trạng thái giới hạn: võng do lún trụ là trạng thái giới hạn 2 thuộc phạm trù sửa chữa được, không phải trạng thái giới hạn 1: nguy cơ sập; còn vết nứt cục bộ, theo ông, "nếu cứ thấy nứt là đòi đập thì phải đóng cửa hết cầu ở Sài Gòn."

Để chứng minh bằng thực nghiệm thay vì lý thuyết suông, ông cho chất sáu xe tải đầy đá (tổng tải trọng hàng trăm tấn) đứng nguyên một ngày trên đúng vị trí võng của cầu. Kết quả: cầu chỉ dịch chuyển chưa tới 8 milimet. Cầu được giữ lại.

Gay gắt nhất, theo cách ông kể, là vụ 18 xà mũ trụ cầu Quán Toan 2 nứt toét bất thường, lỗi mà cả một viện thiết kế lớn lẫn giới học thuật một đơn vị kỹ thuật có nhiều người có bằng cấp cao đều tính sai mô hình (coi xà mũ là dầm chữ T chỉ chịu uốn, trong khi thực tế nó làm việc theo mô hình khung tạo lực kéo ngang). Cụ thể, đó là kết cấu dạng khung, có chân là 2 thanh cong, khi chịu lực thẳng đứng (trọng lượng bản thân cầu và hoạt tải) sẽ tạo ra lực căng ngang ở xà mũ để căn bằng với nội lực trong thanh cong.

Cuộc họp xử lý sự cố, theo lời ông, đã nổ ra tranh cãi tới mức ông bỏ về giữa chừng, để quên cả cặp tài liệu, sau khi thách cả một nhóm kỹ thuật — "từ già đến trẻ" — giải thích được nguyên nhân nứt trong vòng một tháng.

Những câu chuyện này, tất nhiên, chỉ là góc nhìn một phía — của người trong cuộc, kể lại sau nhiều năm. Tôi không có điều kiện phỏng vấn chéo các bên được nhắc tên để đối chứng, nhưng bất kỳ ai cũng có thể đọc lại các sự cố và quá trình khắc phục nó trên báo địa phương, song ít khi tên nhà thầu được nêu ra, bởi như ông Thành tiết lộ, SBTech được dân trong ngành biết hết, "không cần PR".

Một nửa nhân sự là học trò cũ

Nếu phần "nhà trường" và phần "kịch tính" là câu chuyện về tư duy, thì phần "doanh nghiệp" của mô hình ba nhà lại rất thực dụng: khoảng một nửa nhân sự hiện tại của SBTECH, theo ông Thành, là học trò cũ do chính ông đào tạo, nhiều người từng đoạt huy chương vàng Olympic Cơ học toàn quốc, được rèn theo triết lý "nắm chắc bản chất cơ bản để tự suy ra bài toán phức tạp" thay vì học thuộc tiêu chuẩn. Đây là vòng khép kín thứ hai của mô hình: đào tạo ra người, rồi chính người đó quay lại làm nghề cùng ông trên công trường thực.

Vì sao câu chuyện này đáng chú ý lúc này?

Tôi rời văn phòng ông Thành với cảm giác vừa nghe một câu chuyện kinh doanh, vừa nghe một lời tranh luận chưa có hồi kết về việc ai được quyền quyết định số phận một cây cầu: hội đồng học thuật đúng quy trình, hay một kỹ sư dám đặt cược bằng phép thử thực địa.

Trong bối cảnh các chủ trương lớn về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo đang được đẩy mạnh, và giáo dục đại học được khuyến khích gắn chặt hơn với doanh nghiệp, câu chuyện của một bộ môn đại học sinh ra một công ty, rồi công ty đó quay lại sinh ra một ngành đào tạo mới, là một mẫu hình cụ thể hiếm hoi để nhìn vào — dù, như mọi mô hình còn đang hình thành, nó vẫn cần thời gian và những xác nhận độc lập hơn để biết sẽ đi xa đến đâu...

(Kỳ tới: Vì sao SBTECH sợ PR?)
Theo: FB Lợi Phan Mai
, , HPL Media - Cty Truyền Thông Quốc Tế HPL Media,

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945-10/10/2026) !!!Kính chúc các Luật sư trên mọi mi...
10/10/2026

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Luật sư Việt Nam (10/10/1945-10/10/2026) !!!

Kính chúc các Luật sư trên mọi miền tổ quốc thân yêu, luôn "tâm sáng chí bền", vui - khoẻ - tươi - trẻ với nghề, phụng sự công lý và nhân văn.

Kính chúc các hãng luật, luôn phát triển bền vững, luôn tăng trưởng 2 con số, góp phần thực thi pháp quyền và thúc đẩy văn hóa pháp quyền, góp phần xây dựng văn hóa tôn trọng quyền SHTT và thúc đẩy ĐMST ở Việt Nam.

Trân trọng !!!!

Thương mại hóa TSTT ở Việt Nam thời điểm hiện nay có nhiều quan ngại.Ngày 7/10, tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã diễn r...
09/10/2026

Thương mại hóa TSTT ở Việt Nam thời điểm hiện nay có nhiều quan ngại.
Ngày 7/10, tại Trường Đại học Luật Hà Nội đã diễn ra hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Thương mại hóa tài sản trí tuệ – Kinh nghiệm của Đức và Việt Nam”, trong khuôn khổ Ngày Pháp luật Việt - Đức lần thứ 16, thuộc dự án hợp tác giữa Bộ Tư pháp hai nước về Nhà nước pháp quyền.

Hội thảo diễn ra trong bối cảnh tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế. Khi đó, tài sản trí tuệ không chỉ là đối tượng cần được pháp luật bảo hộ mà còn được kỳ vọng trở thành nguồn lực tạo ra giá trị, thúc đẩy doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Hội thảo có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, đại diện cơ quan, tổ chức, cơ sở đào tạo của Việt Nam và Đức, trong đó có PGS.TS. Nguyễn Văn Quang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Hà Nội; GS.TS Lê Hồng Hạnh, Chủ tịch Trung tân Trọng tài quốc tế Việt Nam; PGS.TS. Từ Diệp Công Thành, Giám đốc Trung tâm Sở hữu trí tuệ và Chuyển giao công nghệ, Đại học Quốc gia TP.HCM; PGS.TS. Phan Quốc Nguyên, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Tobias Oelsner, Thẩm phán Tòa án khu vực Berlin; ông Tim Ricker, Trưởng đại diện Viện FES tại Việt Nam; TS. Nguyễn Đắc Bình Minh, Phó Viện trưởng Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia; cùng các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Một trong những tham luận rất được mong chờ là của TS. Trần Lê Hồng – Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ với chủ đề “Chính sách và thể chế pháp lý thúc đẩy thương mại quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới”.

Ông Trần Lê Hồng thẳng thắn nhìn nhận: Các nghiên cứu gần đây dựa trên các thống kê liên quan đã cho thấy một thực trạng đáng quan ngại là nhu cầu thương mại quyền SHTT ở Việt Nam hiện nay là có thật, rất lớn và đang tăng nhanh, tuy nhiên phần lớn trong đó vẫn đang ở dạng nhu cầu tiềm ẩn chưa chuyển hóa được thành hoạt động thương mại thực tế.

Ông Hồng dẫn chứng các số liệu: Số đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tăng đến 20,7% trong sáu tháng đầu năm 20262 trong khi tỷ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ ở Việt Nam được đánh giá chỉ ở mức 0,1%3 trong khi mức trung bình thế giới là 5% và ở các nước phát triển là 10%4; Chỉ khoảng 3% sáng chế của các viện nghiên cứu và trường đại học được thương mại hóa; khoảng 75% kết quả dừng ở mức sẵn sàng công nghệ trong phòng thí nghiệm; hơn 50% nhà khoa học cho rằng cơ chế chia sẻ lợi ích từ chuyển giao công nghệ chưa đủ khuyến khích (Theo báo cáo năm 2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ). Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, khoảng 37% kết quả nghiên cứu đã sẵn sàng chuyển giao nhưng không ra được thị trường do vướng mắc về định giá và chuyển quyền sở hữu; Việc dùng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng được cho là vẫn “đóng băng”, dù cơ sở pháp lý đã tồn tại; Cả nước hiện có khoảng 19 sàn giao dịch khoa học và công nghệ nhưng chưa tạo được mạng lưới chung; dữ liệu phân tán giữa các sàn, làm giảm khả năng kết nối cung công nghệ với cầu thị trường.

TS. Trần Lê Hồng cho rằng, nhu cầu thương mại quyền SHTT tăng cao hiện nay chủ yếu nhất do những thay đổi trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam thể hiện chủ yếu qua góc độ chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu của Việt Nam, từ yếu tố lượng sang yếu tố chất.

Về vấn đề định hình chính sách thúc đẩy thương mại hóa quyền SHTT của Việt Nam hiện nay, theo TS. Trần Lê Hồng, cần làm rõ:

Thứ nhất, là những vấn đề cốt lõi, nền tảng và định hướng cho chính sách thúc đẩy thương mại hóa quyền SHTT. Những vấn đề này đã được định hình khá rõ trong Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị - văn bản chuyên đề đầu tiên ở cấp Bộ Chính trị dành riêng cho sở hữu trí tuệ, xác định bốn nhóm nhiệm vụ: hoàn thiện thể chế pháp luật phù hợp chuẩn mực quốc tế và các vấn đề mới về trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số; phát triển thị trường quyền SHTT và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu; tăng cường thực thi, bảo vệ quyền, nhất là trên môi trường số; và phát triển nguồn nhân lực, tổ chức trung gian. Trong đó, chính sách “phát triển thị trường quyền SHTT và thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu” trực tiếp thể hiện mục tiêu thúc đẩy thương mại hóa quyền SHTT.

Thứ hai, là những vấn đề góp phần định hình chính sách thúc đẩy thương mại hóa quyền SHTT, cụ thể: - Khơi thông dòng chuyển dịch quyền SHTT được tạo ra từ ngân sách Nhà nước; - Tạo thuận lợi và nhanh chóng xác lập quyền SHTT; - Đảm bảo các khía cạnh tài chính của quyền SHTT trong thực tế (Đặc biệt trong đó, chính sách phải đảm bảo quyền SHTT “trở thành tài sản của doanh nghiệp, có thể định giá, góp vốn, mua bán, ghi nhận trong báo cáo tài chính và dùng làm tài sản bảo đảm để vay vốn”. Chính sách cũng cần hướng đến việc hỗ trợ các nguồn thông tin cần thiết cho các hoạt động tài chính của quyền SHTT, cụ thể như cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền SHTT); - Những ưu đãi của Nhà nước dành cho các chủ thể thực hiện thương mại hóa quyền SHTT; - Tăng cường hiệu quả việc bảo vệ quyền SHTT.

Về vấn đề xây dựng thể chế pháp lý thúc đẩy thương mại hóa quyền SHTT, theo TS. Trần Lê Hồng, các quy định pháp luật về thương mại hóa quyền SHTT và các quy định trực tiếp hỗ trợ hoạt động thương mại này mặc dù được bổ sung, hoàn thiện rất nhanh trong hai năm qua, đóng góp tích cực vào hoạt động đột phá phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo theo tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tuy nhiên việc triển khai trong 108 thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả về pháp luật lẫn thực tiễn áp dụng, ví dụ như vấn đề về giao dịch bảo đảm đối với quyền SHTT với khả năng cần sự điều chỉnh rõ hơn và phù hợp từ góc độ của Luật SHTT.
, , ,

(Bài 1) Công nghiệp văn hóa nhìn từ góc độ Tài sản trí tuệ: Khi hình ảnh doanh nghiệp bất động sản cũng là một loại tài ...
07/10/2026

(Bài 1) Công nghiệp văn hóa nhìn từ góc độ Tài sản trí tuệ: Khi hình ảnh doanh nghiệp bất động sản cũng là một loại tài sản

Từ thông báo của Novaland đến cuộc chiến bảo vệ thương hiệu trong kỷ nguyên tin giả

Sáng ngày 3 tháng 10, trang chủ của Tập đoàn Novaland xuất hiện một văn bản với tiêu đề khô khốc nhưng nội dung lại rất nóng: “Phản hồi về thông tin không chính xác liên quan đến tình hình hoạt động của công ty”. Văn bản ghi rõ, thời gian qua trên một số trang tin điện tử và nền tảng mạng xã hội đã lan truyền những khẳng định cho rằng Novaland “phá sản”, “mất khả năng hoạt động”.

Novaland khẳng định đó là thông tin không phản ánh chính xác tình trạng pháp lý và hoạt động thực tế. Và ở cuối văn bản, có một câu mà dân làm luật sở hữu trí tuệ sẽ đọc rất kỹ: Tập đoàn “bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bao gồm việc yêu cầu cải chính, gỡ bỏ thông tin, bồi thường thiệt hại và thực hiện các thủ tục pháp lý có liên quan”.

Đó không còn là một thông cáo báo chí thông thường. Đó là một tuyên bố về tài sản trí tuệ.
Bởi vì trong ngành bất động sản, người ta thường nghĩ tài sản chỉ là quỹ đất, là bê tông và giấy phép. Nhưng với một tập đoàn đã niêm yết và có hàng chục dự án mang tên NovaWorld, Aqua City, Sunrise City, thì cái tên, cái logo, cái phối cảnh lung linh về một thành phố bên vịnh và cả niềm tin của khách hàng mới là tài sản mong manh nhất.

Ông Nguyễn Văn T., một khách hàng mua một căn biệt thự tại NovaWorld Phan Thiet từ năm 2020 kể lại, ông xuống tiền vì tin vào hình ảnh “siêu thành phố biển” với 7 kỳ quan được Novaland quảng bá. Khi trên TikTok xuất hiện video với tiêu đề “NovaWorld Phan Thiết lừa dối khách”, dù ông biết dự án đang chậm tiến độ vì pháp lý chung của cả thị trường, nhưng ông vẫn lo lắng. “Mình mua nhà chưa xong đã thấy người ta rao bán cắt lỗ, rồi tin phá sản, tôi mất ngủ mấy đêm”, ông nói.

Chính câu chuyện của ông T. cho thấy, thiệt hại của tin giả trong bất động sản không phải là chuyện ảo. Nó đánh thẳng vào giá trị tài sản thật của hàng ngàn người.
Về mặt pháp lý, “hình ảnh” mà Novaland muốn bảo vệ được cấu thành từ ba lớp tài sản trí tuệ rất cụ thể.

Lớp thứ nhất là nhãn hiệu và tên thương mại. Theo khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tên thương mại là tên gọi của tổ chức dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt. Cái tên “Novaland” hay “NovaWorld” đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Cục Sở hữu trí tuệ. Khi ai đó dùng cụm từ “Novaland phá sản” để giật tít câu view, dù là cá nhân hay một fanpage bất động sản, họ đã xâm phạm đến khả năng phân biệt và uy tín gắn với tên thương mại đó.

Lớp thứ hai là quyền tác giả. Ít ai để ý rằng một video flycam dự án, một phối cảnh 3D về công viên hay một thiết kế cảnh quan đều là tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm điện ảnh được bảo hộ 75 năm. Khi các hình ảnh này bị cắt ghép, đưa vào các video “bóc phốt” với nhạc nền bi quan, đó cũng là hành vi sử dụng tác phẩm phái sinh không xin phép.

Lớp thứ ba, cũng là lớp quan trọng nhất, là uy tín thương mại. Luật Cạnh tranh và Luật An ninh mạng đều quy định hành vi đưa thông tin sai sự thật, gây ảnh hưởng đến uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 101 Nghị định 15/2020 với mức phạt đến 20 triệu đồng với cá nhân, và nếu gây thiệt hại nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.

Novaland không phải là nạn nhân đầu tiên
Lịch sử bất động sản nghỉ dưỡng Việt Nam đã có một bài học đau đớn mang tên Cocobay Đà Nẵng. Năm 2016, Công ty Thành Đô khởi công dự án Khu nghỉ dưỡng và nhà ở cao cấp The Empire với tên thương mại là Cocobay, vốn đầu tư công bố 11.000 tỷ đồng trên 31 ha. Họ đã tạo ra một IP rất kêu: tổ hợp giải trí đầu tiên có condotel, có show diễn, có lễ hội.

Nhưng toàn bộ IP đó chỉ dừng ở lời hứa. Không có nhân vật, không có lễ hội được đăng ký bản quyền, không có hệ sinh thái giải trí được vận hành bền vững. Khi công ty tuyên bố không trả được lợi nhuận cam kết 12% vào cuối năm 2019, gần 500 căn condotel đã nghiệm thu nhưng chưa được cấp sổ, hơn 450 chủ sở hữu đã phải gửi đơn kêu cứu lên Tòa án Nhân dân TP Đà Nẵng. Cái tên Cocobay từ một IP trị giá hàng nghìn tỷ đã trở thành một ví dụ tiêu cực trong sách giáo khoa về khủng hoảng niềm tin. Khi IP văn hóa sụp đổ, bất động sản xung quanh cũng mất giá theo.

Trở lại với Novaland, khác với Cocobay, tập đoàn này chọn cách phản ứng chủ động. Việc Chủ tịch HĐQT Bùi Cao Nhật Quân đứng ra bảo lãnh cá nhân cho khoản vay 360 tỷ đồng của tập đoàn trong bối cảnh tổng tài sản vẫn còn hơn 250.000 tỷ đồng, trong đó hàng tồn kho chiếm hơn 60%, là một động thái tài chính. Nhưng thông báo bảo vệ hình ảnh lại là một động thái pháp lý về sở hữu trí tuệ. Họ hiểu rằng nếu để mặc cho tin giả lan truyền, thiệt hại không chỉ là giá cổ phiếu NVL giảm vài phiên, mà là toàn bộ hệ sinh thái Aqua City, NovaWorld Hồ Tràm, NovaWorld Phan Thiet bị định giá lại trong tâm trí khách hàng. Một luật sư chuyên về sở hữu trí tuệ từng tư vấn cho một tập đoàn lớn ở phía Nam chia sẻ: “Trước đây doanh nghiệp bất động sản chỉ lo đăng ký nhãn hiệu cho tên dự án. Giờ họ phải đăng ký cả hashtag, cả concept lễ hội, cả nhân vật hoạt hình đại diện cho dự án. Vì sau này khi bán nhà, họ không bán 4 bức tường, họ bán câu chuyện. Mà câu chuyện thì phải được bảo hộ như một tài sản trí tuệ”.

Chính vì vậy, thông báo của Novaland dù ngắn, lại mở ra một chương mới cho thị trường. Khi công nghiệp văn hóa được nhắc đến trong bất động sản, người ta hay nghĩ đến chuyện Sun Group làm show diễn hay Vingroup tạo ra những nhân vật Tata Friends trong công viên VinWonders. Nhưng công nghiệp văn hóa ở tầng thấp nhất, chính là việc bảo vệ được chính câu chuyện và hình ảnh của mình trước khi đi kể câu chuyện đó cho người khác. Nếu không làm được việc đó, mọi mô hình “hệ sinh thái 3 chân kiềng: du lịch – giải trí – bất động sản” mà Sun Group hay Vingroup đã dày công xây dựng cũng sẽ lung lay, bởi chân kiềng thứ tư là niềm tin và tài sản trí tuệ đã bị rút mất.
, ,

Ngày trở lại Đại học Luật Hà Nội HLU với Hội thảo quốc tế THƯƠNG MẠI TÀI SẢN TRÍ TUỆ - KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC VÀ VIỆT NAMHộ...
07/10/2026

Ngày trở lại Đại học Luật Hà Nội HLU với Hội thảo quốc tế THƯƠNG MẠI TÀI SẢN TRÍ TUỆ - KINH NGHIỆM CỦA ĐỨC VÀ VIỆT NAM

Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ Tuần lễ pháp luật Việt - Đức lần thứ 16 (thường niên), thuộc dự án hợp tác giữa Bộ Tư pháp Việt Nam - Bộ Tư pháp nước Đức về Nhà nước pháp quyền.

Hy vọng, Tạp chí Sở hữu trí tuệ và Sáng tạo sẽ là không gian kết nối sinh động các vấn đề lý luận và thực tiễn về SHTT, KHCN và ĐMST ở Việt Nam.

Trân trọng giới thiệu và hân hạnh được phục vụ quý khách !  TRUNG TÂM DỊCH VỤ BẢN QUYỀN HPL-CSCHotline: 079 888 1979
06/10/2026

Trân trọng giới thiệu và hân hạnh được phục vụ quý khách !
TRUNG TÂM DỊCH VỤ BẢN QUYỀN HPL-CSC
Hotline: 079 888 1979

Dự thảo Án lệ số 16/2026 và cái giá đắt đỏ cho hành vi dùng phần mềm lậuDự thảo Án lệ số 16/2026 đặt ra một câu hỏi đáng...
06/10/2026

Dự thảo Án lệ số 16/2026 và cái giá đắt đỏ cho hành vi dùng phần mềm lậu

Dự thảo Án lệ số 16/2026 đặt ra một câu hỏi đáng chú ý đó là khi doanh nghiệp sao chép phần mềm không phép, Tòa án sẽ căn cứ vào mức giá nào để xác định tiền bồi thường?
Một doanh nghiệp bị phát hiện sao chép phần mềm thiết kế không được phép. Từ yêu cầu bồi thường ban đầu hơn 12,6 tỷ đồng, vụ việc kết thúc ở cấp phúc thẩm với nghĩa vụ bồi thường 1,128 tỷ đồng. Đằng sau những con số này là vấn đề pháp lý đáng chú ý về cách xác định giá trị bồi thường khi không có hóa đơn bán đúng phiên bản phần mềm bị xâm phạm.

Dự thảo Án lệ số 16/2026, được xây dựng từ Bản án phúc thẩm số 07/2023/KDTM-PT ngày 10/3/2023 của TAND cấp cao tại Hà Nội, đặt ra một vấn đề đáng chú ý: khi không có hóa đơn, hợp đồng cấp phép đúng phiên bản phần mềm bị sao chép tại đúng thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm, Tòa án có thể căn cứ vào một giao dịch cấp phép khác để xác định mức bồi thường hay không?

Theo phân tích của Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, câu trả lời nằm ở việc phải phân biệt giữa giá niêm yết của phần mềm, giá chuyển giao quyền sử dụng thực tế và thiệt hại mà chủ thể quyền chứng minh được.

https://sohuutritue.net.vn/du-thao-an-le-so-16-2026-va-cai-gia-dat-do-cho-hanh-vi-dung-phan-mem-lau-d425676.html

Bị lấy ảnh tạo video AI kiếm tiền, Danh ca - Nhạc sĩ Chế Linh lên tiếngTrong chia sẻ gửi tới khán giả, Chế Linh cho biết...
05/10/2026

Bị lấy ảnh tạo video AI kiếm tiền, Danh ca - Nhạc sĩ Chế Linh lên tiếng

Trong chia sẻ gửi tới khán giả, Chế Linh cho biết thời gian gần đây xuất hiện ngày càng nhiều video sử dụng hình ảnh của ông và một số nghệ sĩ cùng thời được tạo dựng bằng AI. Ông thừa nhận có những sản phẩm xuất phát từ tình cảm của người hâm mộ, muốn tái hiện hình ảnh và ký ức về những nghệ sĩ mà họ yêu mến. Với những tình cảm đó, ông cho biết mình trân trọng.

Tuy nhiên, điều khiến nam ca sĩ lên tiếng là một số video sử dụng các bản thu âm trước đây của ông, sau đó kết hợp với hình ảnh được dựng bằng AI. Theo chia sẻ của Chế Linh, có những sản phẩm được đưa vào những bối cảnh, hành động và màn trình diễn mà ông chưa từng thực hiện, đồng thời được khai thác theo hướng thương mại.

Ông đặc biệt không đồng tình với việc hình ảnh của mình bị dựng thành những màn trình diễn chưa từng xảy ra. Theo Chế Linh, mỗi ca sĩ có cách hát, biểu diễn và thể hiện riêng, được hình thành từ tính cách, trải nghiệm và cảm xúc của người nghệ sĩ.

“AI có thể làm một bức hình chuyển động nhưng không thể hiểu được con người trong bức hình đó”, Chế Linh chia sẻ.

Đáng chú ý, ông đề cập tới một video sử dụng hình ảnh của mình và ca sĩ Thiên Trang, trong đó xuất hiện những hành động thân mật mà ông cho là không phù hợp với cách ứng xử, phong cách biểu diễn của những người trong cuộc. Theo tài liệu Chế Linh cung cấp, video này còn sử dụng một ca khúc do chính ông sáng tác.

Như vậy, trong một sản phẩm AI cụ thể, vấn đề không còn dừng ở chuyện hình ảnh được tạo ra có giống người thật hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là hình ảnh đó đang thể hiện ai, thể hiện điều gì, có khiến công chúng hiểu sai về người thật hay không và chủ thể nào có quyền cho phép việc khai thác đó.

TRẦN XUÂN PHÚC VÀ “CHIỀU MUỘN”: TỪ MỘT KHOẢNH KHẮC ĐỜI THƯỜNG ĐẾN GIÁ TRỊ CỦA QUYỀN TÁC GIẢTrong mỹ thuật Việt Nam đương...
05/10/2026

TRẦN XUÂN PHÚC VÀ “CHIỀU MUỘN”: TỪ MỘT KHOẢNH KHẮC ĐỜI THƯỜNG ĐẾN GIÁ TRỊ CỦA QUYỀN TÁC GIẢ

Trong mỹ thuật Việt Nam đương đại, họa sĩ Trần Xuân Phúc được nhiều người biết đến qua một hành trình sáng tác đặc biệt với đề tài Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hàng nghìn tác phẩm được ông thực hiện trong nhiều năm đã tạo nên một dấu ấn riêng trong sự nghiệp hội họa.

Nhưng phía sau hình ảnh một họa sĩ được biết đến nhiều qua những bức chân dung lãnh tụ, còn có một Trần Xuân Phúc khác: một người nghệ sĩ quan sát đời sống bình dị, những con người vô danh và những khoảnh khắc rất đỗi đời thường.

“Chiều muộn”, tác phẩm sơn dầu kích thước 0,6m x 0,7m, sáng tác năm 2002, là một lát cắt đáng chú ý trong mạch sáng tác ấy.
Không có những nhân vật lịch sử, không có không gian trang trọng của một bức chân dung, “Chiều muộn” đưa người xem trở về với một con đường làng trong thời khắc trước cơn giông - nơi một con người nhỏ bé đang cố gắng đưa chiếc xe chở hàng trở về giữa bầu trời nặng trĩu mây đen.

Và chính từ một khoảnh khắc đời thường ấy, tác phẩm mở ra một câu chuyện rộng hơn về con người, ký ức và giá trị của một tác phẩm nghệ thuật khi nó bước vào đời sống.

Một Trần Xuân Phúc khác trong “Chiều muộn”

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hội họa tại Thanh Hóa, Trần Xuân Phúc được tiếp cận nghệ thuật từ sớm. Cha ông, cố họa sĩ Trần Xuân Vị là người có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình hình thành nghề nghiệp và kỹ thuật hội họa của ông.

Những năm tháng trong quân ngũ, công việc liên quan đến tuyên huấn cùng quá trình rèn luyện nghề nghiệp đã góp phần hình thành ở Trần Xuân Phúc một phong cách thiên về quan sát hình thể, cấu trúc và khả năng diễn tả nhân vật khá chặt chẽ.

Nếu những tác phẩm chân dung cho thấy khả năng nắm bắt thần thái của nhân vật, thì “Chiều muộn” lại cho thấy một cách tiếp cận khác: lấy đời sống làm chất liệu để tạo nên cảm xúc.
Bức tranh mở ra bằng một bầu trời u ám nặng màu xám xanh. Những tầng mây trải rộng, ánh sáng bị nén xuống thấp, tạo nên cảm giác về một cơn giông đang đến gần.

Ở phía dưới, một người phụ nữ đội nón lá, mặc áo màu vàng cam, đang đạp chiếc xe chở theo những chiếc sọt tre. Nhân vật không được đặt trong tư thế tĩnh tại mà gần như bị cuốn vào chuyển động của toàn bộ khung cảnh.

Con đường đất, bánh xe, những chiếc sọt tre và tà áo tạo thành những đường chuyển động liên tục. Trong khi đó, bầu trời rộng và nặng phía trên tạo ra một tương phản đáng chú ý: con người nhỏ bé trước thiên nhiên nhưng không dừng lại trước hoàn cảnh.

Một trong những ấn tượng đầu tiên của “Chiều muộn” nằm ở sự tương phản giữa màu sắc.
Gam xám xanh, nâu và tối của bầu trời và mặt đất chiếm phần lớn không gian. Trên nền ấy, chiếc áo màu vàng cam của nhân vật trở thành điểm nhấn thị giác nổi bật.

Sự tương phản nóng - lạnh không chỉ giúp nhân vật được đẩy lên khỏi nền cảnh mà còn tạo nên một trạng thái cảm xúc: giữa một không gian đang bị dồn nén bởi thiên nhiên, con người vẫn giữ lại một vùng ánh sáng của riêng mình.

Nhân vật trong tranh không có tên. Người xem cũng không nhất thiết phải biết người phụ nữ ấy là ai, đang đi đâu hay câu chuyện cụ thể phía sau chuyến xe, nhưng chính sự không xác định ấy lại mở ra khả năng liên tưởng.
Đó có thể là một người phụ nữ nông thôn trở về trước cơn mưa. Cũng có thể là hình ảnh của người lao động trên hành trình mưu sinh. Và trong một cách đọc rộng hơn, hình ảnh ấy gợi đến sự chịu thương chịu khó, sức bền và khả năng vượt qua những nhọc nhằn rất quen thuộc trong đời sống người Việt.

Vì thế, “Chiều muộn” không chỉ kể về một buổi chiều, nó còn ghi lại một trạng thái của con người trước hoàn cảnh.

Hai mươi năm sau, một tác phẩm vẫn tiếp tục một đời sống khác:

“Chiều muộn” được sáng tác năm 2002, đến năm 2013, tác phẩm đã được đăng ký quyền tác giả cùng bộ sưu tập gồm 101 tác phẩm của họa sĩ Trần Xuân Phúc.

Chi tiết này có ý nghĩa không chỉ ở phương diện pháp lý mà còn ở phương diện lịch sử của tác phẩm. Bởi một tác phẩm hội họa, sau khi hoàn thành, không kết thúc đời sống của mình ở thời điểm người họa sĩ đặt nét cọ cuối cùng.
Nó có thể được trưng bày, sưu tầm, chuyển giao, sử dụng hình ảnh trong sách báo, triển lãm, truyền thông, quảng cáo hoặc các hoạt động thương mại khác.

Khi đó, bên cạnh giá trị nghệ thuật, một câu hỏi khác bắt đầu xuất hiện:
Ai là tác giả? Ai là chủ sở hữu quyền? Tác phẩm được phép sử dụng ở phạm vi nào? Ai có quyền cho phép sao chép, sử dụng hình ảnh hoặc tạo ra bản sao của tác phẩm?

Đó chính là điểm mà câu chuyện của “Chiều muộn” gặp với câu chuyện của quyền tác giả.
Từ một bức tranh đến một tài sản trí tuệ
Trong đời sống nghệ thuật, việc sở hữu một bản vật chất của một bức tranh và sở hữu quyền tác giả đối với bức tranh đó là hai vấn đề khác nhau.

Một người có thể sở hữu bản gốc của một tác phẩm nhưng điều đó không mặc nhiên đồng nghĩa với việc người đó được tự do sao chép, phát hành hoặc khai thác hình ảnh tác phẩm theo mọi cách.

Ngược lại, việc một tác phẩm đã được đăng ký quyền tác giả giúp xác lập rõ hơn thông tin về tác giả, tác phẩm và chủ thể quyền, đồng thời tạo thêm cơ sở quan trọng cho việc bảo vệ quyền khi phát sinh tranh chấp.

Đối với mỹ thuật, điều này càng có ý nghĩa khi tác phẩm bước vào thị trường.
Một bức tranh có thể có giá trị về mặt thẩm mỹ, giá trị sưu tầm và giá trị kinh tế. Nhưng phía sau những giá trị ấy còn có một lớp giá trị khác thường ít được nhìn thấy hơn: quyền tác giả và quyền khai thác tác phẩm.

Đó là lý do việc đăng ký quyền tác giả không nên chỉ được nhìn nhận như một thủ tục hành chính.

Nó có thể trở thành một phần trong quá trình quản trị tài sản trí tuệ của người nghệ sĩ.
Thị trường mỹ thuật cần nhiều hơn một câu chuyện về “tranh đẹp”

Khi thị trường mỹ thuật phát triển, câu hỏi về nguồn gốc tác phẩm ngày càng trở nên quan trọng.

Một tác phẩm chuyên nghiệp cần có thông tin rõ ràng về tác giả, tên tác phẩm, thời điểm sáng tác, chất liệu, kích thước và lịch sử sở hữu. Với những tác phẩm có giao dịch, việc xác định rõ chủ thể quyền và phạm vi quyền được phép khai thác cũng có ý nghĩa không kém.

Đặc biệt, khi một tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu sử dụng bản sao, hình ảnh hoặc các hình thức khai thác khác từ tác phẩm, giao dịch không chỉ còn là câu chuyện mua bán một vật thể.

Đó có thể là một giao dịch liên quan đến quyền sao chép, quyền sử dụng hình ảnh tác phẩm hoặc các quyền tài sản khác của tác giả/chủ sở hữu quyền tác giả, tùy theo mục đích và phạm vi sử dụng cụ thể.

Một thị trường nghệ thuật chuyên nghiệp vì vậy cần hình thành thói quen tôn trọng cả hai giá trị: giá trị của tác phẩm và quyền đối với tác phẩm.

“Chiều muộn” là một trường hợp có thể nhìn thấy rõ điều đó.

Tác phẩm ra đời từ năm 2002. Hồ sơ quyền tác giả được đăng ký từ năm 2013 cùng bộ sưu tập 101 tác phẩm của họa sĩ. Và hơn hai thập niên sau ngày hoàn thành, tác phẩm vẫn có khả năng tiếp tục bước vào những không gian sử dụng mới.

Đó chính là một trong những đặc điểm của tài sản trí tuệ: giá trị sáng tạo có thể tiếp tục được khai thác sau rất nhiều năm kể từ thời điểm tác phẩm được tạo ra.

Khi quyền tác giả trở thành một phần của giá trị nghệ thuật:

Có một cách nhìn khá phổ biến rằng quyền tác giả là câu chuyện của pháp luật, còn nghệ thuật là câu chuyện của cảm xúc.
Thực tế, hai lĩnh vực này có thể gặp nhau ngay trong một tác phẩm cụ thể.

Người nghệ sĩ tạo ra tác phẩm bằng năng lực sáng tạo của mình. Thị trường ghi nhận giá trị của tác phẩm thông qua hoạt động trưng bày, sưu tầm và khai thác. Còn pháp luật tạo ra cơ chế để bảo vệ mối quan hệ giữa tác giả, chủ sở hữu và những người sử dụng tác phẩm.

Vì thế, bảo vệ quyền tác giả không làm giảm đi giá trị nghệ thuật của một bức tranh.
Ngược lại, một hệ thống quyền rõ ràng có thể giúp tác phẩm bước vào thị trường một cách minh bạch hơn.

Với “Chiều muộn”, điều còn lại sau hơn hai mươi năm không chỉ là hình ảnh một người phụ nữ đạp xe qua con đường dưới bầu trời giông.
Đó còn là câu chuyện về hành trình của một tác phẩm: từ ý tưởng sáng tạo của người nghệ sĩ, trở thành tác phẩm cụ thể, được ghi nhận quyền, được lưu giữ và tiếp tục có khả năng tạo ra giá trị trong đời sống.

Trong một nền công nghiệp văn hóa đang ngày càng coi trọng tài sản trí tuệ, đó có lẽ cũng là một cách khác để nhìn về nghệ thuật:
Trân trọng một tác phẩm không chỉ là nhìn thấy cái đẹp trong tác phẩm, mà còn là tôn trọng người đã tạo ra nó và những quyền gắn liền với giá trị sáng tạo ấy.
PKT

ที่อยู่

400/68 ถ. พหลโยธิน ต. คูคต
Amphoe Lam Luk Ka
12130

เบอร์โทรศัพท์

+66926649884

เว็บไซต์

แจ้งเตือน

เป็นคนแรกที่รู้ข่าว: เราจะส่งอีเมลแจ้งเมื่อ Phạm Tài Sở hữu trí tuệ โพสต์ข่าวสารและโปรโมชั่น อีเมลของคุณจะไม่ถูกนำไปใช้เพื่อวัตถุประสงค์อื่น และคุณสามารถยกเลิกการรับข่าวสารได้ทุกเมื่อ

ทางลัด

แชร์

หมวดหมู่