11/03/2026
BẢN ÁN DÂN SỰ PHÚC THẨM VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI NGHỆ AN
Ngày 9/2/2026 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành Bản án số 25/2026/DS-PT về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định cá biệt.
Xem chi tiết bản án dưới đây:
1. PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN SƠ THẨM
Tòa án nhân dân khu vực 6 – Nghệ An không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H về việc đòi quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Đình T. Bà H kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị về phần án phí.
2. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Theo lời khai của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, từ năm 1990 khu vực đất tranh chấp không có người trực tiếp sử dụng; sau đó gia đình ông Nguyễn Đình T được giao đất để sử dụng, xây dựng nhà ở và trồng cây. Năm 1995 ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2] Về chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Bà H giao nộp bản photocopy “Giấy bán nhà và nhượng đất” lập năm 1985 giữa gia đình bà và cụ Bùi Công T2. Tuy nhiên tài liệu này không thể hiện vị trí, kích thước, ranh giới cụ thể của thửa đất; bà H cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh cụ T2 đã chuyển nhượng lại thửa đất cho gia đình bà hoặc chứng minh gia đình bà đã quản lý, sử dụng diện tích đất này.
[2.3] Quá trình xác minh cho thấy gia đình ông Nguyễn Đình T sử dụng đất ổn định từ năm 1990, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 và ranh giới sử dụng đất được xác định rõ ràng. Do đó không có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà H.
[3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát tỉnh Nghệ An thấy:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại 1999m² thuộc thửa đất số 27, tờ bản đồ số 12 tại xóm V, xã H, tỉnh Nghệ An. Như vậy, Tòa án chỉ cần xem xét diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ai để buộc người có hành vi xâm phạm phải trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên đây là loại tranh chấp có án phí không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2014/NQ-UBTVQH14, người nào có nghĩa vụ (tức người thua kiện) phải chịu án phí (trích dẫn: “2. Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất thì nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm được xác định như sau: a) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án không xem xét về giá trị, chỉ xem xét quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất của ai thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án không có giá ngạch.”).
Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm lại xác định phía bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2014/NQ-UBTVQH14, cụ thể: tại điểm b, đương sự chỉ chịu án phí (có giá ngạch) đối với phần giá trị mà mình được hưởng, điều này có nghĩa, đương sự chịu án phí đối với quyền lợi Tòa án phán quyết cho mình (dành cho cả người thua kiện và người thắng kiện) mà không phải chịu án phí đối với nghĩa vụ của mình (trích dẫn: b) Trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu tài sản và tranh chấp về quyền sử dụng đất mà Tòa án phải xác định giá trị của tài sản hoặc xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo phần thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp vụ án có giá ngạch đối với phần giá trị mà mình được hưởng).
3. PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM
Không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị H về nội dung vụ án; giữ nguyên việc không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc đòi lại 1.999m² đất thửa 27, tờ bản đồ số 12 và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G052151 ngày 12/4/1995 đã cấp cho ông Nguyễn Đình T. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An về phần án phí; sửa bản án sơ thẩm về nghĩa vụ án phí của bà H.
----------------------------