04/06/2026
CHI TIẾT TỐ TỤNG VỤ ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ
Khi một bản án sơ thẩm được ban hành, chúng chưa có hiệu lực pháp luật ngay lập tức. Với các bên đương sự chưa hài lòng với phán quyết trong bản án sơ thẩm, họ có quyền kháng cáo để đề nghị Tòa án xét xử phúc thẩm vụ án, VKS có quyền kháng nghị.
Hiểu rõ trình tự, thủ tục phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự là điều kiện tiên quyết để các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách hiệu quả nhất.
1. NỘP ĐƠN KHÁNG CÁO
Người có quyền kháng cáo gồm đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện hợp pháp của đương sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện.
Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự (đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự) có thể tự mình làm đơn kháng cáo hoặc ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kèm theo tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh kháng cáo này có căn cứ và hợp pháp.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với những người vắng mặt có lý do chính đáng tại phiên tòa nơi tuyên án thì thời hạn này được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
Kháng cáo khi đã hết thời hạn trên được coi như kháng cáo quá hạn. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ liên quan và nguyên nhân kháng cáo do người kháng cáo đưa ra, đại diện Viện kiểm sát và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn sẽ cân nhắc tiếp nhận kháng cáo hay không. Kết quả này sẽ được thông báo cho các bên liên quan bằng văn bản.
Kháng nghị của Viện kiểm sát
Tương tự với quyền kháng cáo của các đương sự, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Thông báo kháng cáo và nộp tạm ứng án phí phúc thẩm
Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự liên quan, kèm bản sao đơn kháng cáo và tài liệu bổ sung.
Người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và biên lai trong thời hạn 10 ngày kể từ khi nhận được thông báo trên. Người kháng cáo nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm quá thời hạn trên phải trình bày lý do nộp muộn.
Hết thời hạn trên mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là từ bỏ việc kháng cáo, Tòa sẽ trả lại đơn kháng cáo.
2. CHUYỂN HỒ SƠ VÀ THỤ LÝ PHÚC THẨM
Chuyển hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị
Trong vòng 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị, hoặc hết thời hạn kháng cáo mà người kháng cáo đã nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
3. THỤ LÝ VỤ ÁN ĐỂ XX PHÚC THẨM
Tòa án cấp phúc thẩm vào sổ thụ lý ngay khi nhận được hồ sơ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, cá nhân, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án (có thể kéo dài tối đa 1 tháng nếu vụ án phức tạp), tùy trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau kèm với thông báo bằng văn bản:
- Tạm đình chỉ/Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
- Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng. Như vậy kể từ ngày thông báo thụ lý vụ án, nếu không có quyết định đình chỉ/tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm thì vụ án sẽ được đưa ra xét xử phúc thẩm chậm nhất sau 04 tháng làm việc.
4. XÉT XỬ PHÚC THẨM
4.1 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn có quyền thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Nếu các bên thỏa thuận một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực pháp luật ngay.
4.2 Phiên tòa xét xử phúc thẩm
- Chuẩn bị và khai mạc phiên tòa
- Thư ký phiên tòa tiến hành các công việc sau:
- Phổ biến nội quy phiên tòa;
- Kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án. Nếu có người - vắng mặt phải làm rõ lý do;
- Ổn định trật tự trong phòng xử án;
Yêu cầu mọi người trong phòng đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án (có thể không đứng dậy nếu có lý do chính đáng).
- Sau khi Thư ký chuẩn bị xong, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thư ký phiên tòa sẽ báo cáo về những người có mặt, vắng mặt cùng lý do của người vắng mặt để Chủ tọa xác nhận lại.
- Chủ tọa phiên tòa sẽ phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; giới thiệu họ, tên của những người tiến hành tố tụng; người giám định, người phiên dịch (nếu có).
- Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không
- Cuối cùng, để kết thúc phần khai mạc, chủ tọa yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật (trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên); yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.
- Hỏi về việc kháng cáo, kháng nghị và xử lý việc thay đổi kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa.
Theo quy định tại Điều 298, Điều 299 và Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2025, sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị. Sau đó, Chủ tọa phiên tòa tiến hành hỏi về các vấn đề sau đây.
- Thứ nhất, hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không. Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi ý kiến bị đơn; trường hợp bị đơn khồng đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn; trường hợp bị đơn đồng ý thì Hội đồng xét xử ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
- Thứ hai, hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị hay không.
- Thứ ba, hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
Tranh tụng tại phiên tòa:
Sau khi Hội đồng xét xử tiến hành hỏi về việc thay đổi kháng cáo, kháng nghị, thỏa thuận tại phiên tòa mà đương sự vẫn giữ kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị, các bên cũng không thỏa thuận được với nhau thì tiến đến phần tranh tụng.
Đương sự trình bày kháng cáo, Viện kiểm sát trình bày kháng nghị
Đương sự tự trình bày kháng cáo hoặc để người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trình bày thay, người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. Trường hợp có nhiều bên kháng cáo thì thứ tự trình bày lần lượt là: nội dung kháng cáo bên nguyên đơn => nội dung kháng cáo bên bị đơn => nội dung kháng cáo bên người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Viện kiểm sát trình bày về nội dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị (nếu có kháng nghị). Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị.
Lưu ý: Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát, bên kháng cáo và bên có quyền lợi liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
Hỏi và công bố tài liệu, chứng cứ, vật chứng
Thủ tục hỏi diễn ra như sau: Nguyên đơn/người bảo vệ được hỏi trước => bị đơn/người bảo vệ => người có quyền lợi liên quan/người bảo vệ => những người tham gia tố tụng khác. Chủ tọa và Hội thẩm nhân dân hỏi những vấn đề chưa rõ; Kiểm sát viên hỏi (nếu tham gia phiên tòa).
Việc hỏi được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Tranh luận: Khác với phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm (phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo).
Trình tự tranh luận kháng cáo giống với ở phiên tòa sơ thẩm, cụ thể:
Người kháng cáo/Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến. Nếu có kháng nghị, Kiểm sát viên sẽ trình bày sau khi các đương sự trình bày kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp về nội dung kháng cáo; tính hợp pháp, tính có căn cứ của kháng nghị (Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề được nêu bởi đương sự). Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Theo Điều 306 BLTTDS 2026, sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Nghị án và tuyên án: Sau khi kết thúc tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để xem xét, quyết định giải quyết vụ án. Việc nghị án chỉ do các thành viên Hội đồng xét xử tiến hành và được ghi lại bằng biên bản. Các thành viên Hội đồng xét xử biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Thẩm phán chủ tọa biểu quyết sau cùng.
Nếu trong quá trình nghị án cần xem xét thêm chứng cứ hoặc hỏi thêm, Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận trước khi nghị án tiếp.
Sau khi bản án được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại phòng xử án để tuyên án. Mọi người phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án. Chủ tọa hoặc một thành viên HĐXX đọc toàn bộ bản án.
Kết thúc phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền ra một trong các quyết định sau đây:
- Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
- Sửa một phần bản án sơ thẩm;
- Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm;
- Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm
- Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.
5. BẢN ÁN PHÚC THẨM DÂN SỰ
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc thẩm cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trường hợp Tòa phúc thẩm - Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể dài hơn, nhưng không quá 25 ngày.
ST: LS TRẦN THỊ HIỀN
Văn phòng luật sư Đồng Đội