Huyen Legal

Huyen Legal Công ty Luật HPL & Cộng sự
Luật sư, Ths. Đặng Thị Thúy Huyền
Chuyên sâu Sở Hữu Trí Tuệ
📞 079 888 1979
📧 [email protected]

Biết công ty trốn thuế nhưng vẫn tiếp tục làm việc: Khi nào nhân viên chỉ là người làm công, khi nào có thể trở thành đồ...
27/07/2026

Biết công ty trốn thuế nhưng vẫn tiếp tục làm việc: Khi nào nhân viên chỉ là người làm công, khi nào có thể trở thành đồng phạm?

Một doanh nghiệp bán hàng không xuất hóa đơn, để doanh thu ngoài sổ sách, kê khai chi phí khống hoặc sử dụng hóa đơn không hợp pháp nhằm giảm số thuế phải nộp. Nhân viên trong công ty biết chuyện nhưng vẫn tiếp tục đi làm, nhận lương bình thường.

Vậy chỉ cần “biết công ty trốn thuế mà không nghỉ việc” thì có bị xử lý hình sự hay không?

Câu trả lời là: Không thể chỉ dựa vào việc biết và tiếp tục làm việc để kết luận một người là đồng phạm. Trách nhiệm hình sự phải được xác định trên cơ sở người đó có cố ý tham gia, bàn bạc, tổ chức, thực hành, xúi giục hoặc giúp sức cho hành vi trốn thuế hay không.

Tuy nhiên, ranh giới từ một nhân viên bình thường trở thành người có liên quan trong vụ án đôi khi chỉ nằm ở một chữ ký, một lần chuyển tiền hoặc một thao tác sửa số liệu kế toán.

Biết có vi phạm chưa đồng nghĩa với cùng phạm tội

Theo nguyên tắc về đồng phạm của Bộ luật Hình sự, đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Như vậy, để xử lý một nhân viên về vai trò đồng phạm trong tội trốn thuế, cơ quan tố tụng phải chứng minh được ít nhất hai vấn đề:

Thứ nhất, người đó nhận thức được hành vi đang thực hiện nhằm che giấu doanh thu, hợp thức hóa chi phí hoặc làm giảm nghĩa vụ thuế trái pháp luật.

Thứ hai, họ vẫn cố ý tham gia bằng một hành động cụ thể, tạo điều kiện về vật chất hoặc tinh thần để việc trốn thuế được thực hiện.

Do đó, một nhân viên chỉ nghe đồng nghiệp nói rằng công ty có dấu hiệu gian lận thuế, nhưng không tham gia, không có chức năng kê khai và không thực hiện hành vi hỗ trợ thì chưa đủ căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự.

Ngược lại, nếu đã biết rõ mục đích trốn thuế nhưng vẫn trực tiếp làm theo chỉ đạo, thì việc nói rằng “tôi chỉ là nhân viên” không đương nhiên loại trừ trách nhiệm.

Những vị trí có nguy cơ pháp lý cao

Trong các vụ án trốn thuế, trách nhiệm thường không chỉ được xem xét đối với giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật. Kế toán trưởng, kế toán thuế, thủ quỹ, nhân viên kinh doanh, quản lý kho hoặc người quản lý tài khoản ngân hàng đều có thể bị làm rõ vai trò nếu trực tiếp tham gia vào quy trình vi phạm.

Một số hành vi có nguy cơ bị xem là giúp sức hoặc thực hành tội phạm gồm:

* Lập hai hệ thống sổ sách, một bộ dùng nội bộ và một bộ dùng để khai thuế;
* Không ghi nhận doanh thu theo chỉ đạo dù biết hàng hóa đã được bán;
* Lập chứng từ khống, hợp thức hóa chi phí không có thật;
* Mua, bán hoặc sử dụng hóa đơn không hợp pháp để kê khai thuế;
* Chia nhỏ dòng tiền, nhận tiền bán hàng qua tài khoản cá nhân để che giấu doanh thu;
* Xóa dữ liệu, sửa số liệu hoặc tiêu hủy chứng từ khi có kiểm tra;
* Ký tờ khai, báo cáo hoặc hồ sơ thuế mà biết rõ nội dung không đúng thực tế.

Trong một bản án được công bố năm 2025, việc kế toán trưởng cùng giám đốc thống nhất không xuất hóa đơn, không kê khai doanh thu và không đưa khoản thu vào sổ sách đã được xác định là hành vi liên quan trực tiếp đến việc trốn thuế.

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy không phải cứ làm việc tại phòng kế toán là bị xem là đồng phạm. Có trường hợp người làm kế toán không biết doanh thu bị cố ý để ngoài sổ sách nên không bị xác định phạm tội; yếu tố nhận thức và sự tham gia cụ thể vẫn là căn cứ quyết định.

“Sếp chỉ đạo nên phải làm” có phải lý do miễn trách nhiệm?

Quan hệ lao động đặt người lao động trong sự quản lý và điều hành của doanh nghiệp, nhưng không có nghĩa cấp dưới phải thực hiện mọi mệnh lệnh, kể cả mệnh lệnh trái pháp luật.

Nếu giám đốc yêu cầu kế toán sửa doanh thu, lập chứng từ không có thật hoặc đưa hóa đơn khống vào kê khai, người lao động có quyền từ chối. Khi một người biết rõ hành vi trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện để hưởng lương, thưởng hoặc giữ vị trí, họ có thể phải chịu trách nhiệm đối với phần hành vi mình đã tham gia.

Việc làm theo chỉ đạo có thể được xem xét trong quá trình đánh giá vai trò, động cơ và mức độ trách nhiệm, nhưng không mặc nhiên biến hành vi cố ý thành vô tội.

Tòa án sẽ xem xét ai là người chủ mưu, ai quyết định phương thức trốn thuế, ai trực tiếp lập hồ sơ, ai ký và ai hưởng lợi. Người làm công có vai trò thứ yếu có thể được phân hóa trách nhiệm, nhưng vẫn có thể là đồng phạm nếu đủ căn cứ chứng minh sự cố ý.

Ký theo hồ sơ đã lập sẵn vẫn có thể chịu trách nhiệm

Nhiều người cho rằng mình không tự nghĩ ra phương án trốn thuế, chỉ ký giấy tờ do cấp trên đưa xuống nên không liên quan.

Đây là nhận thức rất nguy hiểm.

Chữ ký trên hóa đơn, tờ khai, phiếu thu, hợp đồng, bảng kê hoặc chứng từ kế toán có thể trở thành chứng cứ cho thấy người ký đã tham gia vào quá trình thực hiện hành vi. Tuy nhiên, chữ ký cũng không phải căn cứ duy nhất để kết tội.

Cơ quan điều tra còn phải làm rõ người ký có được đọc hồ sơ không, có biết số liệu sai không, có chuyên môn và trách nhiệm kiểm tra không, có được hưởng lợi không, có trao đổi trước với người chỉ đạo không và đã thực hiện hành vi bao nhiêu lần.

Nếu một nhân viên bị giả chữ ký, bị sử dụng tài khoản hoặc chữ ký số mà không biết thì phải chứng minh bằng dữ liệu đăng nhập, lịch sử thiết bị, email, tin nhắn, vị trí làm việc và các chứng cứ liên quan.

Ngược lại, việc thường xuyên giao mã xác thực, chữ ký số hoặc tài khoản khai thuế cho người khác sử dụng một cách tùy tiện cũng có thể khiến người đứng tên rơi vào tình thế rất khó giải trình.

Không hưởng đồng nào vẫn có thể là đồng phạm

Đồng phạm không bắt buộc tất cả những người tham gia đều phải được chia tiền từ số thuế đã trốn.

Một kế toán có thể không nhận thêm khoản lợi ích nào ngoài tiền lương nhưng vẫn bị xem xét trách nhiệm nếu biết rõ mục đích và cố ý hỗ trợ bằng nghiệp vụ của mình.

Hưởng lợi là tình tiết quan trọng để đánh giá động cơ và mức độ tham gia, nhưng không phải điều kiện bắt buộc duy nhất của trách nhiệm hình sự.

Có những người không trực tiếp hưởng tiền nhưng hành vi của họ lại là mắt xích không thể thiếu, chẳng hạn lập hồ sơ khống, kê khai sai hoặc hợp thức hóa dòng tiền. Khi đó, trách nhiệm được xác định dựa trên đóng góp thực tế vào hành vi phạm tội.

Pháp nhân bị xử lý, cá nhân có thoát trách nhiệm không?

Tội trốn thuế là một trong những tội danh mà pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, việc xử lý công ty không loại trừ trách nhiệm của cá nhân có liên quan.

Giám đốc, kế toán hoặc người thực hiện hành vi vẫn có thể bị xử lý độc lập theo vai trò của mình. Ngược lại, không phải cứ công ty bị truy cứu thì toàn bộ nhân viên đều trở thành bị can.

Có vụ án cho thấy hành vi trốn thuế được cá nhân thực hiện dưới danh nghĩa giám đốc nhưng không bàn bạc với người khác và không vì lợi ích chung của công ty; khi đó, trách nhiệm pháp lý được đánh giá theo đúng bản chất hành vi và phạm vi tham gia của từng chủ thể.

Người lao động nên làm gì khi phát hiện dấu hiệu trốn thuế?

Khi nhận thấy doanh nghiệp có dấu hiệu che giấu doanh thu hoặc gian lận hồ sơ thuế, người lao động không nên tiếp tục ký hoặc thực hiện những công việc mà mình biết rõ là trái pháp luật.

Cần lưu giữ hợp pháp các email, tin nhắn, văn bản giao việc và ý kiến phản đối của mình. Trường hợp bị ép buộc thực hiện, nên thể hiện rõ việc không đồng ý bằng văn bản hoặc qua kênh nội bộ có thể kiểm chứng.

Không được tự ý tiêu hủy, sửa chữa, lấy cắp hoặc phát tán dữ liệu bí mật của doanh nghiệp. Việc thu thập và cung cấp tài liệu phải tuân thủ pháp luật, tránh từ một người muốn bảo vệ mình lại phát sinh thêm hành vi vi phạm khác.

Trong trường hợp nghiêm trọng, người lao động có thể cân nhắc chấm dứt việc tham gia, tham vấn luật sư hoặc cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự.

Góc nhìn luật sư: Nghỉ việc không phải điều kiện duy nhất để chứng minh vô tội

Pháp luật không buộc mọi nhân viên phải lập tức nghỉ việc chỉ vì nghe thông tin công ty có dấu hiệu vi phạm. Một người vẫn có thể tiếp tục thực hiện những công việc hợp pháp và không liên quan đến hành vi trốn thuế.

Vấn đề quyết định không phải họ còn nhận lương hay đã nghỉ việc, mà là họ đã làm gì sau khi biết sự việc.

Nếu không tham gia, không giúp sức và không cố ý tạo điều kiện cho việc trốn thuế, họ không thể bị quy kết chỉ vì làm cùng công ty.

Nhưng nếu biết rõ vẫn ký, vẫn lập hồ sơ, vẫn che giấu doanh thu và vẫn giúp hợp thức hóa số liệu thì chiếc thẻ nhân viên không phải là lá chắn trước trách nhiệm hình sự.

Trong một vụ án kinh tế, câu nói “tôi chỉ làm theo chỉ đạo” có thể giải thích vì sao một người thực hiện hành vi, nhưng chưa chắc giải thích được vì sao họ biết sai mà vẫn làm. Từ nhân viên trở thành đồng phạm đôi khi không cần góp vốn hay chia lợi nhuận; chỉ cần một hành vi cố ý giúp cho việc trốn thuế được thực hiện đến cùng.

22/07/2026
20/07/2026

Theo quy định của pháp luật, thời hiệu đối với tranh chấp hợp đồng tín dụng là 03 năm, tuy nhiên trường hợp này đã quá thời hạn trên mấy năm phía Ngân hàng mới…

15/07/2026

Xây nhà sai phép như có ban công lấn chiếm không gian… nhưng đáp ứng đủ 6 điều kiện thì người xây dựng hoặc chủ sở hữu mới sẽ không bị buộc tháo dỡ.

10/07/2026

🚨 THÔNG BÁO CẢNH BÁO GIẢ MẠO – KHÔNG BÁN KHOÁ HỌC ONLINE 🚨
👇🏽👇🏽👇🏽

10/07/2026

🚨 THÔNG BÁO CẢNH BÁO GIẢ MẠO – KHÔNG BÁN KHOÁ HỌC ONLINE 🚨

Các nền tảng mạng xã hội của Luật sư Huyền chỉ hoạt động với mục đích chia sẻ kiến thức pháp luật, các bản án, tình huống pháp lý thực tiễn, chính sách thuế và những cảnh báo pháp lý phục vụ cộng đồng.

📌 Luật sư Huyền KHÔNG:
❌ Bán khóa học online dưới bất kỳ hình thức nào;
❌ Bán hàng online, kêu gọi đầu tư hoặc tham gia các dự án tài chính;
❌ Thu phí tư vấn qua tin nhắn, chuyển khoản trước để “giải quyết hồ sơ” ... hoặc bất kỳ giao dịch cá nhân nào;
❌ Yêu cầu người dân chuyển tiền vào tài khoản cá nhân với lý do hỗ trợ pháp lý hoặc thực hiện dịch vụ trực tuyến.

⚠️ Mọi trường hợp sử dụng tên tuổi, hình ảnh, bài viết hoặc danh nghĩa của Luật sư Huyền để kêu gọi chuyển tiền, bán khóa học, bán hàng hoặc thu phí trái phép đều có dấu hiệu của hành vi giả mạo, lừa đảo.

Đề nghị Quý bạn đọc:
✔️ Kiểm tra kỹ thông tin trước khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào;
✔️ Không chuyển tiền theo yêu cầu từ các tài khoản lạ hoặc các trang giả mạo;
✔️ Chủ động liên hệ qua các kênh chính thức khi cần xác minh thông tin.

🛡️ Trong thời đại công nghệ số, kiến thức pháp luật được chia sẻ miễn phí, nhưng sự cảnh giác trước các hành vi lừa đảo thì không bao giờ được phép miễn giảm.

Xin hãy chia sẻ thông tin này để bảo vệ chính mình và cộng đồng trước các thủ đoạn giả mạo ngày càng tinh vi trên không gian mạng.

Trong nhiều vụ chia tài sản ly hôn mà người chồng can án kinh tế, ranh giới giữa “người vợ có công sức tạo lập tài sản” ...
10/07/2026

Trong nhiều vụ chia tài sản ly hôn mà người chồng can án kinh tế, ranh giới giữa “người vợ có công sức tạo lập tài sản” và “người đồng phạm giúp sức” đôi khi không nằm ở tờ giấy đăng ký kết hôn, mà nằm ở mức độ nhận thức, ý chí và hành vi thực tế của mỗi người trong toàn bộ quá trình hình thành khối tài sản chung.

https://phapluatplus.baophapluat.vn/tai-san-chung-do-chong-thu-loi-bat-chinh-khong-duoc-chia-coi-chung-vo-con-thanh-dong-pham.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo

02/07/2026
Từ 1/7/2026: Người được thi hành án có thể phải nộp tới 245 triệu đồng và 0,01% giá trị tài sản theo quy định mớiTừ ngày...
30/06/2026

Từ 1/7/2026: Người được thi hành án có thể phải nộp tới 245 triệu đồng và 0,01% giá trị tài sản theo quy định mới

Từ ngày 01/7/2026, mức thu, chế độ thu, miễn, giảm và quản lý phí thi hành án dân sự sẽ được thực hiện theo Thông tư số 72/2026/TT-BTC của Bộ Tài chính. Đây là văn bản thay thế Thông tư số 216/2016/TT-BTC và Thông tư số 74/2019/TT-BTC, đồng thời có nhiều quy định mới đáng chú ý mà người dân, doanh nghiệp và các luật sư cần đặc biệt lưu ý.

Điểm đáng chú ý nhất là người được thi hành án khi nhận được tiền hoặc tài sản từ việc thi hành án vẫn là đối tượng phải nộp phí thi hành án dân sự, trừ các trường hợp được miễn hoặc không phải chịu phí theo quy định.

Mức thu tối đa lên tới hàng trăm triệu đồng

Theo Điều 5 Thông tư 72/2026/TT-BTC, mức phí được tính theo giá trị thực tế người được thi hành án nhận được.

Cụ thể:

* Giá trị nhận đến 5 tỷ đồng: thu 3%.
* Trên 5 tỷ đến 7 tỷ đồng: thu 150 triệu đồng + 2% phần vượt 5 tỷ.
* Trên 7 tỷ đến 10 tỷ đồng: thu 190 triệu đồng + 1% phần vượt 7 tỷ.
* Trên 10 tỷ đến 15 tỷ đồng: thu 220 triệu đồng + 0,5% phần vượt 10 tỷ.
* Trên 15 tỷ đồng: thu 245 triệu đồng + 0,01% phần vượt 15 tỷ.

Quy định này đồng nghĩa, giá trị tài sản càng lớn thì số phí thi hành án người được thi hành án phải nộp cũng tăng tương ứng.

Không phải lúc nào cưỡng chế mới phát sinh phí

Thông tư mới cũng phân biệt rõ từng trường hợp.

Nếu các bên tự nguyện giao tài sản, thanh toán với nhau sau khi đã có quyết định thi hành án nhưng chưa phải áp dụng biện pháp cưỡng chế, người nộp phí chỉ phải nộp 1/3 mức phí theo quy định.

Ngược lại, nếu cơ quan thi hành án đã thực hiện cưỡng chế hoặc thu được tiền, tài sản sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án thì người được thi hành án phải nộp 100% mức phí tương ứng với giá trị tài sản thực nhận.

Nhiều trường hợp được miễn hoặc giảm phí

Thông tư 72/2026/TT-BTC cũng mở rộng các trường hợp được miễn hoặc giảm phí.

Người được thi hành án không phải nộp phí đối với các khoản như:

* Tiền cấp dưỡng.
* Tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
* Tiền lương, tiền công lao động.
* Trợ cấp thôi việc, mất việc.
* Tiền bảo hiểm xã hội.
* Khoản thu hồi nợ vay của Ngân hàng Chính sách xã hội đối với các đối tượng chính sách.
* Tiền thu hồi trong thời hạn tự nguyện thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.

Bên cạnh đó, người nộp phí còn được miễn nếu thuộc diện người có công, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người cao tuổi không nơi nương tựa, người khuyết tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo theo quy định.

Đối với một số trường hợp xử lý tài sản theo kết quả xác minh điều kiện thi hành án, người được thi hành án còn được giảm 80%, 30% hoặc 20% mức phí tùy từng trường hợp cụ thể.

Phí được thu trước khi giao tiền hoặc tài sản

Một điểm mới đáng chú ý là cơ quan thi hành án sẽ khấu trừ phí trước khi chi trả tiền hoặc giao tài sản cho người được thi hành án.

Đối với tài sản, cơ quan thi hành án phải thông báo số phí phải nộp ít nhất 15 ngày trước khi giao tài sản để người được thi hành án thực hiện nghĩa vụ.

Doanh nghiệp và người dân cần lưu ý

Trong thực tế, nhiều người chỉ quan tâm đến việc thắng kiện mà quên rằng sau khi nhận được tiền hoặc tài sản từ thi hành án vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ tài chính.

Thông tư 72/2026/TT-BTC đã quy định khá chi tiết về đối tượng phải nộp phí, mức thu, trường hợp miễn, giảm và phương thức thu phí, giúp minh bạch hơn quá trình thi hành án dân sự.

Đối với các vụ việc có giá trị tài sản lớn, đặc biệt là tranh chấp kinh doanh, bất động sản, cổ phần doanh nghiệp hoặc thi hành các bản án có giá trị hàng chục, hàng trăm tỷ đồng, việc tính toán chi phí thi hành án ngay từ khi xây dựng chiến lược tố tụng là điều cần thiết để tránh những bất ngờ sau khi bản án có hiệu lực.

Căn cứ pháp lý: Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15; Thông tư số 72/2026/TT-BTC ngày 23/6/2026 của Bộ Tài chính (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026).

Address

125/10 Nguyễn Văn Thương, Phường Thạnh Mỹ Tây,
Tp. Hồ Chí Minh

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Huyen Legal posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share