06/07/2026
THỰC HIỆN ĐÚNG THỦ TỤC CẤP ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, NGƯỜI DÂN BẤT NGỜ ĐỐI MẶT NGUY CƠ BỊ THU HỒI GIẤY CHỨNG NHẬN VÀ YÊU CẦU NỘP GẦN 1,5 TỶ ĐỒNG TIỀN SỬ DỤNG ĐẤT
"Đi làm thủ tục đúng quy định nhưng lại đứng trước nguy cơ bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất." Hiện, Công ty Luật Dương An hiện đang bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho một gia đình tại tỉnh Quảng Ninh trong vụ việc trên, chỉ vì thực hiện nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai theo đúng quy định của pháp luật, người dân bị đề xuất thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp hợp pháp hơn 20 năm trước, đồng thời phát sinh yêu cầu nộp bổ sung gần 1,5 tỷ đồng tiền sử dụng đất theo quan điểm của cơ quan chuyên môn.
1. 📝Diễn biến vụ việc:
Năm 2020, Nhà nước thu hồi 62,2 m² thuộc một thửa đất của gia đình bà K để thực hiện Dự án đường gom cao tốc đến Sân bay Vân Đồn. Sau khi diện tích đất thay đổi, gia đình bà K đã thực hiện đúng quy định của pháp luật khi làm thủ tục đăng ký biến động, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhằm cập nhật lại diện tích thực tế sau khi Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất. Ban đầu, cơ quan chuyên môn hướng dẫn người dân thực hiện cam kết nghĩa vụ để hoàn thiện hồ sơ. Tuy nhiên, sau đó, các cơ quan có thẩm quyền lại thay đổi quan điểm, không những không giải quyết thủ tục cấp đổi mà còn cho rằng: Gia đình bà K đã được cấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: (i) Thửa đất Diện tích: 469 m2 (ONT: 400m2, đất vườn tạp: 69m2) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sau đây gọi tắt là: "GCNQSDĐ") ngày 04/11/1999; (ii) Thửa đất 2: Diện tích: 396 m² (ONT) ngày 18/12/2003. Như vậy, gia đình bà K đã được cấp đất ở vượt hạn mức theo quy định tại Điều 1 và Điều 5 Quyết định số 2515/2000/QĐ-UB ngày 02/10/2000 của UBND tỉnh Quảng Ninh về hạn mức đất ở tại nông thôn; đồng thời, tại thời điểm cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 2, hồ sơ cấp GCNQSDĐ chưa có chứng từ chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ tài chính. Từ đó đề nghị xem xét thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do "được cấp không đúng đối tượng, không đúng diện tích, không đủ điều kiện được cấp" theo điểm d khoản 2 Điều 152 Luật Đất đai năm 2024. Trường hợp không bị thu hồi thì gia đình phải nộp bổ sung tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ở được cho là vượt hạn mức, với số tiền cơ quan chuyên môn xác định gần 1,5 tỷ đồng.
2. ⚖️ Quan điểm pháp lý của Luật sư
Sau khi nghiên cứu toàn bộ hồ sơ và các quy định pháp luật có liên quan, chúng tôi cho rằng việc áp dụng pháp luật của cơ quan chuyên môn trong vụ việc này còn nhiều điểm chưa phù hợp.
1. Không thể áp dụng quy định pháp luật được ban hành sau để phủ nhận tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đã được cấp trước thời điểm văn bản quy phạm đó có hiệu lực
Thửa đất 1 được cấp Giấy chứng nhận từ ngày 04/11/1999, trong khi quy định về hạn mức đất ở mà UBND trích trong Quyết định số 2515/2000/QĐ-UB có hiệu lực từ năm 02/10/2000. Căn cứ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật: "Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực; Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi, sự kiện xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật có quy định hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.” Như vậy, không thể áp dụng căn cứ về hạn mức đất ở tại Quyết định số 2515/2000/QĐ-UB để xem xét về hạn mức cấp diện tích đất ở mà phải căn cứ vào các quy định pháp luật có hiệu lực tại thời điểm cơ quan nhà nước thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là Luật Đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.
2. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND X cho gia đình bà K là hợp pháp và đúng hạn mức đất ở theo quy định pháp luật tại thời điểm cấp
- Hồ sơ báo cáo của UBND thể hiện thửa đất 1 được tạo lập từ năm 1979 với mục đích làm nhà, trong khi bà K và chồng kết hôn vào năm 1987. Điều này cho thấy thửa đất có nguồn gốc được hình thành trước thời kỳ hôn nhân và không thể được xem là căn cứ để cộng gộp diện tích đất ở của một hộ gia đình.
- Hồ sơ báo cáo của UBND thể hiện thửa đất 2 đã được gia đình sử dụng ổn định từ năm 1988. Căn cứ theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 26/02/2000) quy định về hạn mức giao đất tại Nghị định số 04/2000/NĐ-CP chỉ áp dụng đối với trường hợp giao đất mới, không áp dụng đối với trường hợp người dân đã sử dụng đất ổn định trước khi Nghị định có hiệu lực. Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của Nghị định 04/2000/NĐ-CP là kể từ ngày 26/02/2000. Do đó, thửa đất 2 của gia đình bà K không thuộc trường hợp áp dụng hạn mức cấp đất ở.
3. Thửa đất 2 của gia đình bà K không thuộc trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất
Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định 38/2000 NĐ-CP (Có hiệu lực từ ngày 07/09/2000) quy định về mức thu tiền sử dụng đối với đất nông thôn: “Trường hợp sử dụng đất ở ổn định trước ngày 31 tháng 5 năm 1990 (ngày ban hành Quyết định số 186/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác) thì không phải nộp tiền sử dụng đất”. Trên thực tế, thửa đất này được gia đình bà K tự khai phá từ năm 1986 và sử dụng ổn định, liên tục, không tranh chấp từ năm 1988 đến nay. Nguồn gốc này đã được ghi nhận trong báo cáo của UBND. Vì vậy, thửa đất 2 của gia đình bà K thuộc trường hợp không phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, việc cơ quan chuyên môn cho rằng thửa đất 2 của gia đình “không nộp nghĩa vụ tài chính” để làm căn cứ từ chối cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Bởi lẽ, theo trình tự, thủ tục quản lý đất đai, người sử dụng đất chỉ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc thuộc trường hợp không phải nộp hoặc được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc cơ quan Nhà nước hiện nay không còn lưu trữ hoặc làm thất lạc các chứng từ, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ tài chính của gia đình bà K và khẳng định gia đình bà K không nộp nghĩa vụ tài chính là không đúng. Điều này không thể được xem là căn cứ hợp pháp để từ chối việc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình.
💡Bài học pháp lý
Vụ việc trên cho thấy một thực tế đáng lưu ý:
1. Người dân thực hiện đúng nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai không đồng nghĩa với việc phải chấp nhận mọi yêu cầu phát sinh từ cơ quan hành chính nếu các yêu cầu đó không có căn cứ pháp luật. Trong nhiều trường hợp, việc áp dụng chưa chính xác quy định về nguồn gốc đất, hạn mức giao đất, thời điểm sử dụng đất hoặc nghĩa vụ tài chính có thể dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sử dụng đất hợp pháp của người dân.
2. Nếu gặp tình huống tương tự, người dân nên nghiên cứu kỹ căn cứ pháp lý, yêu cầu cơ quan nhà nước giải thích rõ cơ sở áp dụng pháp luật và tìm kiếm sự hỗ trợ từ luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh phát sinh những khoản nghĩa vụ tài chính không đúng quy định hoặc nguy cơ bị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
📞 Người dân cần tư vấn hoặc hỗ trợ giải quyết tranh chấp, thủ tục về đất đai?
💬 Nhanh chóng liên hệ Luật sư Đinh Vĩ: 0977.939.116
Hoặc inbox trực tiếp Fanpage Luật Dương An để được các luật sư và chuyên viên pháp lý hỗ trợ, tư vấn kịp thời.