14/03/2018
Bản bào chữa của Luật sư Trần Vũ Hải trong vụ án cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng TMCP Nam Việt được Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm.
Kính thưa hội đồng xét xử
Kính thưa đại diện Viện kiểm sát
Tôi, Luật sư Trần Vũ Hải, nhận bào chữa cho hai bị cáo trong phiên toà này là bị cáo Lê Quang Trí và bị cáo Nguyễn Hồng Sơn. Ngoài tôi, còn có một số Luật sư khác bào chữa cho hai bị cáo này và các bị cáo khác.
Theo sự phân công giữa các Luật sư, tôi xin trình bày hai vấn đề chính sau đây liên quan đến vụ án này, mà theo chúng tôi là hai vấn để cốt lõi phải giải quyết khi xét xử vụ án này, cùng một số vấn đề khác liên quan đến tố tụng, chứng cứ, tài liệu trong vụ án này.
Trước khi đi vào nội dung chính bài bào chữa, tôi xin được lưu ý như sau: Điều 87 Bộ luật tố tụng hình sự ( BLTTHS) 2015- (1) không quy định bản án hình sự là nguồn chứng cứ, mà chỉ nêu biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án là một nguồn chứng cứ. Trong khi có vẻ đại diện Viện kiểm sát đã mặc định bản án phúc thẩm vụ Huyền Như là chứng cứ để kết tội các bị cáo, không cho họ và các Luật sư cơ hội chứng minh các bị cáo vô tội như kêu oan của họ và theo quy định của BLTTHS, vi phạm các nguyên tắc cơ bản hoạt động tố tụng hình sự (trong đó có xét xử) như phải xác định sự thật của vụ án (Điều 15 BLTTHS) – (2), suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS) – (3), tôn trọng và bảo đảm quyền con người (Điều 8 BLTTHS)– (4) và đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội (Điều 16 BLTTHS)– (5).
Tôi xin trình bày hai vấn đề chính sau đây:
1. Đề nghị Toà án áp dụng khoản 7 điều 2 luật Tổ chức Toà án nhân dân 2014 –(6) và Điều 265 BLTTHS để dừng phiên toà và kiến nghị đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội xem xét lại Nghị quyết 41/2017/QH14 này có trái Hiến pháp không và trái Nguyên Tắc Áp Dụng Luật được Luật Việt nam và Pháp Luật Quốc Tế công nhận.
2. Xác định rõ không có việc Navibank (NVB) bị thiệt hại do Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi của các nhân viên Navibank tại Vietinbank (VTB) Nhà Bè như nhận định của Viện kiểm sát. Tiền gửi trị giá 200 tỷ của 4 nhân viên của NVB tại VTB TPHCM vẫn còn nguyên, vì các nhân viên này chưa tất toán hoặc trực tiếp đưa ra các lệnh chi. Nếu khoản tiền này bị ai đó chiếm đoạt, thì VTB chịu trách nhiệm.
I. Về vấn đề thứ nhất.
Điều 119 khoản 2 Hiến pháp 2013 –(7) quy định:
“2.Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp…”
Điều 2 khoản 7 Luật Tổ chức Toà án Nhân Dân 2014 – (8) quy định:
“7. Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.”
Điều 265 BLTTHS cũng có quy định tương tự.
Trong quá trình nghiên cứu Nghị quyết 41/2017/QH14, chúng tôi nhận thấy điều 2 khoản e của Nghị quyết này trái với Hiến pháp 2013 và Nguyên Tắc Áp Dụng Luật được Luật Việt nam và Pháp Luật Quốc Tế công nhận, do đó đề nghị Tòa án áp dụng điều 2 khoản 7 của Luật TCTAND nêu trên và Điều 265 BLTTHS để dừng phiên tòa, để kiến nghị đến Quốc Hội và UB thường trực Quốc Hội xem xét thẩm quyền. Sau khi có kết quả xử lý, Tòa án sẽ căn cứ vào đó để tiếp tục giải quyết vụ án này.
Chúng tôi xin phân tích như sau:
Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2017 (BLHS 2015/2017) thực tế đã xoá bỏ tội danh theo điều 165 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung 2009 (BLHS 1999/2009)"tội cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng", nhưng Nghị Quyết 41 này tại điều 2 khoản e quy định: đối với những hành vi cố ý làm trái này theo điều 165 BLHS 1999/2009 này xảy ra trước 0h ngày 1/1/2018 mà đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sau thời điểm này thì tiếp tục áp dụng BLHS 1999/2009 để xử lý. Trong khi cũng hành vi này bị phát hiện sau thời điểm 0h ngày 1/1/2018 thì không khởi tố, điều tra, truy tố xét xử theo điểu 165 BLHS 1999/2009 mà áp dụng BLHS 2015/2017 với các điều khoản tương ứng. Quy định này dẫn đến có những hành vi không thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo BLHS 2015/2017, nhưng vẫn áp dụng luật cũ hết hiệu lực để truy tố, xét xử nếu hành vi này bị khởi tố trước ngày 1/1/2018.
Một khi pháp luật của một quốc gia đã tuyên bố xóa một tội danh đồng nghĩa là trật tự pháp luật của quốc gia đó coi hành vi đó không còn tính nguy hiểm về trách nhiệm hình sự. Nhận định và hệ quả pháp lý đó cần phải được hưởng thụ bởi tất cả mọi người dân, trong đó có các bị cáo trong phiên tòa này.
Nghị quyết 41/2017/QH14 cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người phạm vào tội danh quy định tại Điều 165 BLHS 1999/2009 nếu hành vi phạm tội được thực hiện trước 1/1/2018 nhưng được truy tố, xét xử sau thời điểm này. Trong khi đó, BLHS 2015/2017 bãi bỏ tội danh này. Quy định này trái với nguyên tắc không hồi tố pháp luật hình sự, được luật pháp quốc tế công nhận rộng rãi, luật pháp Việt Nam cũng quy định (xem các căn cứ dưới đây). Đồng thời, việc áp dụng hồi tố pháp luật cho (những người phạm vào) môt số tội danh cá biệt như điều 165 BLHS 1999/2009 chưa được chứng mình tính hơp lý để đối xử không bình đẳng với (những người phạm vào) các tội danh khác (mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự bởi BLHS mới đã bãi bỏ các tội), trong khi Khoản 1 điều 16 Hiến pháp – (9)(Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật), yêu cầu nhà nước thực hiện và bảo đảm mọi người đều bình đằng trước pháp luật trừ khi có lý do hợp lý theo các giá trị khác được đảm bảo bởi Hiến pháp.
Mặt khác, quy định tại điều 2.e trên của Nghị Quyết 41 này dẫn đến hai người cùng có hành vi như nhau (cố ý làm trái quy định Nhà nước…) và thực hiện gần như cùng thời điểm, nhưng một người bị khởi tố trước ngày 1/1/2018 thì có thể bị xử đến 20 năm tù, còn người kia may mắn hơn do chưa bị khởi tố thì được thoát trách nhiệm hình sự.
Như vậy nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (theo khoản 1 điều 16 Hiến Pháp 2013) bị xâm phạm bởi quyết định tại điều 2e Nghị quyết 41/2017/QH14
Ngoài ra quy định tại điều 2.e trên của Nghị Quyết 41:
1. Mâu thuẫn với điều 2.b trong chính Nghị Quyết này – (10). (Không điều tra, truy tố, xét xử với những tội phạm đã bị xoá bỏ theo BLHS 2015/2017)
2. Mâu thuẫn với điều 156 khoản 4 Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2015 –(11) (Luật BHVBQPPL 2015) (không áp dụng văn bản pháp luật cũ mà áp dụng văn bản pháp luật mới nếu quy định trách nhiệm pháp lý hay quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn)
3. Mâu thuẫn với chính điều 7 khoản 3BLHS 2015/2017 – (12)(áp dụng quy định xoá bỏ tội phạm hay quy định nhẹ hơn đối với hành vi phạm tội xảy ra trước ngày có hiệu lực thi hành- tức nếu áp dụng đúng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp được coi là vi phạm điều 165 BLHS 1999/2009)
4. Mâu thuẫn với điều 15 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị -(13) (mà Việt nam đã tham gia), theo đó nếu luật quy định hình phạt nhẹ hơn có thể hiểu cả xoá bỏ) sau khi có hành vi phạm tội, thì quy định nhẹ hơn được áp dụng. Theo điều 12 Hiến pháp 2013 – (14), Việt Nam tuân thủ các điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo khoản 5 điều 156 Luật BHVBQPPL 2015 – (15), trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì ưu tiên áp dụng quy định của luật điều ước quốc tế.
5. Mâu thuẫn với Nghị Quyết 109 của Quốc hội năm 2015 thi hành BLHS 2015, trong đó không được khởi tố, truy tố, xét xử theo điều 165 BLHS 1999 sau ngày 1/7/2016 nếu hành vi cố ý này không bị khởi tố trước ngày 1/7/2016.
6. Năm 1999 Quốc hội khoá 10 từng ban hành nghị quyết 32 thi hành BLHS 1999/2009 không có bất cứ quyết định nào tương tự điều 2e của Nghị quyết 41 này. Nghị quyết 32/1999 khẳng định, không xử lý về hình sự đối với những hành vi BLHS trước đây quy định là tội phạm nhưng theo BLHS 1999/2009 không phải là tội phạm.
Theo Luật Luật Sư và Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, luật sư phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để bảo vệ thân chủ. Do đó, theo chúng tôi, kiến nghị Toà án thực hiện quyền của mình theo Luật Tổ chức Toà án để dừng Toà án và kiến nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội xem xét về tính vi hiến và trái nguyên tắc áp dụng luật của quy định tại điều 2e Nghị Quyết 41 năm 2017 của Quốc Hội vừa là quyền và bổn phận của các luật sư trong phiên toà này, vừa thực hiện trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp theo Điều 119 khoản 2 Hiến Pháp 2013.
II. Vấn đề thứ hai
Xác định rõ không có việc Navibank (NVB) bị thiệt hại do Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi của các nhân viên Navibank tại Vietinbank (VTB) Nhà Bè như nhận định của Viện kiểm sát. Tiền gửi trị giá 200 tỷ của 4 nhân viên của NVB tại VTB TPHCM vẫn còn nguyên, vì các nhân viên này chưa tất toán hoặc trực tiếp đưa ra các lệnh chi. Nếu khoản tiền này bị ai đó chiếm đoạt, thì VTB chịu trách nhiệm.
1. Kết luận của Viện kiểm sát NVB bị thiệt hại 200 tỷ đồng do Huyền Như chiếm đoạt tiền gửi của nhân viên NVB tại VTB Nhà Bè trong cáo trạng và theo nhận định của Viện kiểm sát tại phiên tòa là không phù hợp với thực tế khách quan. Vì các nhân viên của NVB đã tất toán các hợp đồng tiền gửi tại VTB nhà Bè, đã nhận đủ số tiền gốc và lãi, chuyển về NVB. Các tình tiết này đã được chứng minh tại phiên tòa.
2. Nếu Viện kiểm sát giữ nguyên kết luận trên (thiệt hại tại VTB Nhà Bè), chúng tôi đề nghị Viện kiểm sát đưa ra chứng cứ.
3. Nếu NVB bị thiệt hại 200 tỷ đồng do các nhân viên của NVB bị Huyền Như chiếm đoạt tại các tài khoản ở VTB Nhà Bè, có nghĩa Huyền Như đã không gây thiệt hại cho nhân viên NVB và NVB tại VTB TPHCM (nếu Huyền Như gậy thiệt hại cho nhân viên NVB và NVB tại đây, số thiệt hại sẽ lên trên 200 tỷ đồng, mâu thuẫn với chính kết luận của Viện kiểm sát). Như vậy, chính Viện kiểm sát đã công nhận, trong tổng số tiền 500 tỷ đồng của nhân viên NVB (có nguồn từ NVB) gửi tại VTB TPHCM, không có đồng tiền nào bị mất do Huyền Như chiếm đoạt. Như vậy, ngoài số tiền 300 tỷ đồng mà nhân viên NVB đã tất toán và chuyển về cho NVB, 200 tỷ đồng còn lại vẫn nằm trong tài khoản của họ tại VTB TPHCM và do vậy VTB TPHCM có trách nhiệm phải hoàn trả lại 200 tỷ đồng này cho nhân viên của NVB để họ hoàn trả lại cho NVB. Nói tóm lại, nếu coi NVB bị thiệt hại 200 tỷ đồng tại VTB Nhà Bè do Huyền Như chiếm đoạt như nhận định của Viện kiểm sát, hóa ra NVB sẽ không bị thiệt hại gì do khoản 200 tỷ đồng này gửi tại VTB TPHCM sẽ được hoàn trả cho NVB, dẫn đến mâu thuẫn với chính cáo trạng và quy kết của Viện kiểm sát.
4. Thực tế, 04 nhân viên của NVB đã mở tài khoản tại VTB TPHCM, NVB đã chuyển tiền (200 tỷ đồng) cho họ theo tài khoản tại VTB TPHCM, những tình tiết này đã được chứng minh tại phiên tòa và ngay cả đại diện VTB không phản đối. Hợp đồng tiền gửi của các nhân viên của NVB ký với Chi nhánh VTB TPHCM là với bà Hương (Phó giám đốc Chi nhánh), chứ không phải ký với Huyền Như. Hợp đồng này có hiệu lực ngay khi ký (quy định trong chính hợp đồng), phía VTB có quyền và nghĩa vụ trích từ tài khoản của nhân viên NVB tại VTB TPHCM (đã được nêu trong chính hợp đồng). Cho đến khi Huyền Như bị bắt, các nhân viên của NVB đều không tất toán hoặc có lệnh chi nào để chuyển tiền hoặc lấy tiền ra khỏi tài khoản. Theo đại diện của VTB, Huyền Như đã làm giả lệnh chi để rút tiền các tài khoản này ngay sau khi NVB chuyển tiền vào tài khoản của 04 nhân viên này, do đó, hợp đồng tiền gửi chưa được thực hiện và VTB không có trách nhiệm gì. Lập luận này của VTB không phù hợp với quy chế 1284/2002/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ban hành 2002 về mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nhà nước và tổ chức tín dụng. Theo Điều 12 khoản 2, quy chế 1284 này, ngân hàng có trách nhiệm: Kiểm soát các lệnh thanh toán của khách hàng, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, hợp pháp, hợp lệ và khớp đúng với các yếu tố đã đăng ký.
Thực tế, các nhân viên NVB đã ghi đủ tên, số CMND, chữ ký đăng ký tại đơn đề nghị mở tài khoản tại VTB TPHCM, bị cáo Đỗ Đăng Luật đã trình bản gốc đơn đề nghị này trước tòa, phía Huyền Như và đại diện VTB đều thừa nhận là hợp lệ tại phiên tòa. Thế nhưng, lệnh chi chuyển tiền từ các tài khoản này không do nhân viên NVB ký, họ không trực tiếp đến VTB TPHCM để ký lệnh chi và được phía VTB TPHCM kiểm tra tên, tuổi và CMND theo đăng ký mở tài khoản. Như vậy, phía VTB TPHCM đã không thực hiện trách nhiệm kiểm soát các lệnh thanh toán này khớp đúng với các yếu tố đã đăng ký, khi chấp nhận lệnh chi không do họ ký và họ không có mặt tại VTB TPHCM để kiểm tra các yếu tố đã đăng ký.
Theo Điều 12, khoản 8 của quy chế 1284 nêu trên, ngân hàng Chịu trách nhiệm về những thiệt hại, vi phạm, lợi dụng trên tài khoản của khách hàng do lỗi của mình. Nếu cho rằng, Huyền Như chiếm đoạt của nhân viên NVB khoản 200 tỷ đồng này, VTB TPHCM phải chịu trách nhiệm theo điều khoản này do vi phạm Điều 12 khoản 2 đã nêu trên.
Chúng tôi khẳng định các nhân viên NVB và NVB không có lỗi trong việc các khoản tiền được lấy ra khỏi các tài khoản của nhân viên NVB. Nếu Viện kiểm sát cho rằng họ có lỗi, đề nghị Viện kiểm sát đưa ra chứng cứ.
III. Một số vấn đề liên quan đến tố tụng, chứng cứ, tài liệu
1. Luận tội của Viện kiểm sát được trình bày không đúng theo quy định của Điều 321 BLTTHS.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội trên cơ sở cáo trạng là chủ yếu, không dựa vào diễn biến phiên tòa theo Điều 321 BLTTHS, trong khi đề nghị những mức án rất nặng nề đối với các bị cáo, mặc dù họ đang kêu oan. Luận tội của Viện kiểm sát có căn cứ vào bản án phúc thẩm vụ án Huyền Như được xử đầu năm 2015 và một số tài liệu khác. Chúng tôi không thấy những chứng cứ, tài liệu nào để làm căn cứ cho luận tội của Viện kiểm sát đã được kiểm tra tại phiên tòa, mặc dù chúng tôi đã yêu cầu. Ví dụ, bản án phúc thẩm Huyền Như không được kiểm tra tại phiên tòa theo như Điều 315 BLTTHS, mặc dù các luật sư đã yêu cầu. Chúng tôi đề nghị, HĐXX yêu cầu Viện kiểm sát phải kiểm tra lại các chứng cứ, tài liệu mà họ dựa vào đó để luận tội các bị cáo (tức trở lại phần xét hỏi). Những chứng cứ xác định về hậu quả (NVB bị thiệt hại 200 tỷ đồng) phải được kiểm tra, được các Luật sư và bị cáo nhận xét, nếu cần, đề nghị Tòa án kiểm tra tính hợp pháp của những chứng cứ đó có đúng theo Điều 87, Khoản 2 BLTTHS không.
2. Bản án phúc thẩm Huyền Như đầu năm 2015 khó có thể là căn cứ để buộc tội các bị cáo.
a. Theo Điều 87 BLTTHS, bản án không thuộc loại nguồn chứng cứ, trừ khi muốn xếp vào loại các tài liệu, đồ vật khác theo Khoản 1, điểm g, trong khi biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được coi là nguồn chứng cứ. Điều 104 BLTTHS quy định về tài liệu, đồ vật khác, có vẻ như khái niệm bản án không thuộc vào mục này. Mặc dù vậy, nếu coi bản án là một tài liệu, để làm căn cứ buộc tội bị cáo thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải thu thập các tài liệu này một cách hợp pháp và theo Điều 108 BLTTHS phải đánh giá về tính xác thực, liên quan đến vụ án và theo Điều 315 BLTTHS đại diện cơ quan cung cấp tài liệu này phải trình bày tài liệu này hoặc HĐXX phải công bố tài liệu tại phiên tòa (ít nhất các phần liên quan đến vụ án đang xét xử được ghi trong tài liệu đó).
b. Thực tế, đến ngày 07/03/2018, Tòa án mới có quyết định thu thập hai tài liệu là các bản án sơ thẩm và phúc thẩm vụ án Huyền Như và đến 12/03/2018 mới thông báo cho những người tham gia tố tụng biết đã thu thập được, nhưng cũng chưa kiểm tra hai tài liệu này theo đúng Điều 315 BLTTHS.
c. Nghiên cứu sơ bộ bản án phúc thẩm vụ án Huyền Như, chúng tôi thấy có sự mâu thuẫn ngay trong chính bản án này liên quan đến tình tiết thiệt hại 200 tỷ đồng của NVB (được cho là do Huyền Như chiếm đoạt) tại trang 28, bản án ghi nhận: “Xác minh tại Vietinbank Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh: Ngân hàng này xác định số tiền 200 tỷ đồng có trong tài khoản tiết kiệm của 04 nhân viên Navibank mở tại Vietinbak do các cá nhân này không giữ thẻ tiết kiệm và không mở tài khoản tiết kiệm đúng trình tự nên đã bị Như chiếm đoạt trả cho nhiều đơn vị và cá nhân.” Còn tại trang 87 bản án lại ghi: “Hành vi chiếm đoạt 200 tỷ đồng của Navibank thông qua 04 nhân viên gửi tiền tại Vietinbank CN Nhà Bè của bị cáo Như được xác định hoàn thành từ khi Navibank, nhân viên Navibank thực hiện giao dịch bất hợp pháp và bị bị cáo Như lợi dụng.” Với những nội dung mâu thuẫn như vậy, bản án này không thể làm căn cứ để xác định sự thật vụ án đang được xét xử, càng không thể là căn cứ buộc tội các bị cáo.
3. Việc triệu tập các kiểm sát viên, điều tra viên vụ án này và Ông Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm Huyền Như đầu năm 2015 là cần thiết để giải thích những mâu thuẫn liên quan đến các văn bản tố tụng do họ ban hành.
a. Trước khi phiên tòa diễn ra, Luật sư Phạm Công Út đã có đề nghị Tòa án triệu tập bốn điều tra viên và một kiểm sát viên đã thụ lý vụ án này. Tuy nhiên, Ông Chủ tọa phiên tòa đã không giải quyết đề nghị này trước khi mở phiên tòa theo Điều 279 BLTTHS, cũng như không thông báo bằng văn bản cho Luật sư Phạm Công Út về lý do không chấp nhận.
b. Khi bắt đầu phiên tòa, các Luật sư cũng đã tiếp tục đề nghị triệu tập các vị trên, nhưng Ông Chủ tọa cho rằng sẽ xem xết nếu thấy cần thiết trong quá trình xét xử.
c. Ngày 07/03/2018 sau khi Ông Chủ tòa tuyên bố tạm dừng phiên tòa 5 ngày để thu thập chứng cứ, 12 Luật sư đã ký yêu cầu triệu tập các vị trên và Ông Chủ tọa phiên tòa phúc thẩm Huyền Như đầu năm 2015, đến nay, Tòa án vẫn chưa chấp nhận. Chúng tôi cho rằng, việc triệu tập họ là cần thiết và có căn cứ pháp lý, xin trình bày dưới đây.
d. Kết luận điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát có 2 mâu thuẫn quan trọng sau: (i)Kết luận điều tra cho rằng, NVB bị thiệt hại do Huyền Như chiếm đoạt tiền từ các tài khoản của các nhân viên NVB tại VTB TP. HCM, trong khi cáo trạng xác định NVB bị thiệt hại do Huyền Như chiếm đoạt tiền của các nhân viên NVB tại VTB Nhà Bè; (ii) Kết luận điều tra cho rằng, các bị cáo bị cáo buộc vi phạm Quyết định 1310 của Ngân hàng nhà nước ban hành năm 2002, trong khi cáo trạng không cáo buộc như vậy mà cho rằng các bị cáo vi phạm Quyết định 1627 của Ngân hàng nhà nước ban hành năm 2002 và Điều 94 Luật Tổ chức tín dụng, trong khi Cơ quan điều tra không xem xét những hành vi vi phạm này (nếu có) của các bị cáo.
e. Có mâu thuẫn trong chính bản án phúc thẩm Huyền Như đã nêu trên.
f. Đề nghị triệu tập những người trên là quyền của các Luật sư theo Điều 73 BLTTHS, để những người này giải thích tại sao có những mâu thuẫn rất quan trọng trong các văn bản tố tụng và với nhau. Theo Điều 296 BLTTHS, trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết, HĐXX có quyền triệu tập những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án, đặc biệt đó là những vấn đề mấu chốt của vụ án và các Luật sư đã yêu cầu. Đáng tiếc, HĐXX đã chưa chấp nhận những đề nghị này, nay tôi xin tiếp tục đề nghị HĐXX triệu tập họ, đặc biệt khi hầu hết các bị cáo đang kêu oan và mức án theo đề nghị của Viện kiểm sát rất nặng nề. Làm rõ sự thật của vụ án, tránh oan sai là trách nhiệm của HĐXX.
4. Một số ý kiến về những chứng cứ.
a. Tại phiên tòa, Ông Chủ tọa cũng nêu một số bút lục trong hồ sơ vụ án, và cho rằng đó là những tài liệu để xác định thiệt hại của NVB do Huyền Như chiếm đoạt. Tuy nhiên, chúng tôi phát hiện những tài liệu đó không ai ký, có công văn không số, nên không thể coi là những chứng cứ hợp pháp.
b. Ngày 07/03/2018, HĐXX đã yêu cần Viện kiểm sát cung cấp các sao kê 4 tài khoản của các nhân viên NVB tại VTB TP. HCM. Viện kiểm sát đã cũng cấp các sao kê này bằng cách sao các bản sao kê thu thập được tại hồ sơ vụ án Huyền Như. Chúng tôi nhận thấy những sao kê trong vụ án Huyền Như cũng không có chữ ký của người cung cấp tài liệu. Mặc khác, sao kê tài khoản là dữ liệu điện tử, phải được thu thập phù hợp với Điều 99, Điều 107, Điều 196 BLTTHS vì việc thu thập sao kê này được thực hiện theo quyết định của Tòa án khi BLTTHS đã có hiệu lực từ 01/01/2018, và những tài liệu sao kê này trước đây chưa có trong hồ sơ vụ án. Chúng tôi cho rằng việc thu thập của Viện kiểm sát là trái với các quy định nêu trên của BLTTHS. Đề nghị Viện kiểm sát và Tòa án phải kiểm tra, đánh giá về tính hợp pháp của việc thu thập các tài liệu này.
c. Việc xác định thất thoát tại Ngân hàng trong hoạt động ngân hàng tài chính phải dựa trên những chứng từ đã được thực hiện và còn lưu giữ. Chúng tôi được biết mỗi một lệnh chi được thực hiện, bên cạnh được thể hiện trong sao kê tài khoản còn lưu giữ lệnh chi, mã tên của những người chấp nhận lệnh chi…Do đó, chúng tôi đề nghị Tòa án và Viện kiểm sát phải kiểm tra về từng lệnh chi đó để xác định ai là người có lỗi, có phải NVB và các bị cáo có lỗi hay không khi thực hiện những lệnh chi đó (từ đó được coi là dẫn đến các thiệt hại của NVB).
IIII. Đề nghị của chúng tôi
1. Đề nghị Viện kiểm sát và HĐXX phải kiểm tra lại tất cả các chứng cứ, tài liệu làm căn cứ buộc tội các bị cáo, kể cả tính hợp pháp của việc thu thập các chứng cứ, tài liệu đó theo đúng quy định của BLTTHS.
2. Trong trường hợp không trở lại xét hỏi, đề nghị Viện kiểm sát phải tranh luận sòng phẳng với các ý kiến của Luật sư và bị cáo trong đó có ý kiến của tôi.
3. Đề nghị tạm dừng phiên tòa và HĐXX kiến nghị Quốc hội và UBTVQH như chúng tôi đã nêu ở mục I.
4. Trong trường hợp Tòa án vẫn tiến hành xét xử và tuyên án, chúng tôi đề nghị HĐXX tuyên các bị cáo không phạm tội do không đủ căn cứ để chứng minh.
Chúng tôi rất mong HĐXX công tâm, xem xét mọi ý kiến trên của chúng tôi và yêu cầu Viện kiểm sát phải đối đáp đầy đủ những ý kiến đó.
Trân trọng,
Luật sư Trần Vũ Hải
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13/03/2018.