17/08/2021
VẤN ĐỀ LƯƠNG, VÀ LAO ĐỘNG TRONG THỜI GIAN DỊCH COVID 19.
Trước tình hình dịch Covid 19, và các quyết định, chỉ thị của Chính Phủ liên quan đến việc thắt chặt việc đi lại, làm việc. Chúng tôi xin chia sẻ đến Quý khách hàng các thông tin sơ lược về vấn đề chi trả tiền lương, chính sách hỗ trợ lao động của chính phủ trong thời gian nhạy cảm này.
I. VẤN ĐỀ TIỀN LƯƠNG:
TRƯỜNG HƠP 1: CÔNG TY VẪN TIẾP TỤC HOẠT ĐỘNG TUY NHIÊN NGƯỜI LAO ĐỘNG KHÔNG ĐỒNG Ý THAM GIA.
- Thông thường khi không đồng ý vào doanh nghiệp làm việc thì người lao động sẽ đơn phương chấm dứt hợp đồng.
- Tuy nhiên, trong trường hợp người lao động không có động thái đơn phương chấm dứt hợp đồng, Công ty sẽ có 2 lựa chọn:
(i) Lựa chọn 1: Tiến hành thảo thuận về việc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động với người lao động (Điều 30) => Thoả thuận này sẽ quy định về thời gian tạm hoãn trong bao lâu, và có thể không trả lương cho người lao động trong thời gian tạm hoãn.
Khi hết thời hạn tạm hoãn, người lao động sẽ buộc phải trở lại làm việc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn, và công ty bắt buộc phải nhận lại người lao động nếu hợp đồng lao động còn thời hạn.
Trong trường hợp người lao động không trở lại vào thời điểm trên thì công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
(ii) Lựa chọn 2: tiến hành cho người lao động thuộc trường hợp trên ngừng việc. Trong trường hợp này, việc ngừng việc của người lao động do LỖI của người lao động do đó công ty không phải trả lương.
Tuy nhiên, cần lưu ý, việc người lao động không đến công ty làm việc phải do ý chí của họ, không phải do vấn đề nơi ở bị cách ly, trong thời gian bị cách ly… Nếu rơi vào trường hợp người lao động không đến làm việc được do lý do khác ngoài ý chí của người lao động thì căn cứ theo Điều 99 Bộ Luật Lao động
• Nếu thời gian ngừng việc từ 14 ngày trở xuống, thì tiền lương ngừng việc được thoả thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu.
• Nếu thời gian ngừng việc trên 14 ngày thì hai bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo mức lương nhận được 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
TRƯỜNG HỢP 2: CÔNG TY QUYẾT ĐỊNH CHO TẤT CẢ LAO ĐỘNG NGỪNG VIỆC (KHÔNG BAO GỒM HÌNH THỨC LÀM VIỆC Ở NHÀ)
Trong trường hợp này, theo đúng quy định tại Điều 99 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động, liên đoàn lao động các tỉnh thành (Tp. HCM, Hà Nội) thì trường hợp này, người lao động sẽ được hưởng lương ngừng việc, cụ thể:
• Nếu thời gian ngừng việc từ 14 ngày trở xuống, thì tiền lương ngừng việc được thoả thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu.
• Nếu thời gian ngừng việc trên 14 ngày thì hai bên thoả thuận nhưng phải đảm bảo mức lương nhận được 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Lưu ý: Cho đến hiện tại vẫn chưa có một cơ sở pháp lý rõ ràng nào hay một bản án tham khảo nào từ Toà án do tranh chấp giữa người lao động và công ty chỉ ra hướng giải quyết hay phần thắng thuộc về bên nào trong trường hợp hai bên không thoả thuận được mức lương mà người lao động nhận được kể từ ngày thứ 15 trong thời gian ngừng việc vì lý do dịch bệnh Covid. Các văn bản hướng dẫn của các Sở Lao động của các tỉnh,thành phố chỉ nói rằng mức lương ngừng việc kể từ ngày thứ 15 có thể thấp, bằng, hoặc cao hơn mức lương tối thiểu vùng.
Hiện nay, do tình hình dịch bệnh covid kéo dài, đã có nhiều doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất đã tiến hành chi trả đủ 14 ngày ngừng việc đầu tiên bằng với mức lương tối thiểu vùng và cho người lao đông ngừng việc không hưởng lương kể từ ngày thứ 15.
Tuy nhiên, nếu công ty có thể đạt được một thoả thuận TẠM DỪNG THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG với người lao động theo quy định tại Điều 30, thì công ty có thể KHÔNG TRẢ LƯƠNG cho người lao động hoặc một mức lương khác thấp hơn mức lương tối thiểu.
* Lưu ý: Để tránh những rắc rối pháp lý về sau, Công ty phải có một thoả thuận bằng văn bản với từng người lao động về việc tạm dừng thực hiện hợp đồng lao động. Trong đó, nêu rõ thời gian tạm dừng, mức lương thoả thuận trả (từ 0 VNĐ cho đến mức lương cơ bản).
Trường hợp do dịch bệnh hoặc nguyên nhân bất khả kháng không thể thỏa thuận bằng văn bản, Công ty và người lao động có thể thỏa thuận bằng các hình thức khác (qua điện thoại, tin nhắn, thư điện tử,…) Khi hoạt động trở lại bình thường, Công ty có trách nhiệm bổ sung thỏa thuận bằng văn bản để lưu trữ và đối chiếu, kiểm tra sau này. (Tham khảo Công văn số 2558/LĐTBXH-VP ngày 05/08/2021 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
TRƯỜNG HỢP 3: CÔNG TY VẪN TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG NHƯNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG LÀM VIỆC TẠI NHÀ
Khi cho người lao động làm việc ở nhà, Doanh nghiệp có thể áp dụng quy định về “chuyển người lao động sang làm công việc khác” so với hợp đồng lao động trong thời gian không quá 60 ngày cộng dồn trong một năm, và lương của công việc mới phải ít nhất bằng 85% lương công việc cũ và không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng (Điều 29 Bộ Luật lao động).
TRƯỜNG HỢP 4: CÔNG TY TIẾN HÀNH CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG.
Trong trường hợp do tình hình dịch bệnh khó khăn, doanh nghiệp không thể hoạt động tiếp hoặc muốn thu hẹp sản xuất căn cứ theo quy định tại Điều 36.1c Bộ Luật lao động, doanh nghiệp có thể ra thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động. Tuy nhiên, cần lưu ý đảm bảo thời gian thông báo trước cho người lao động từ 30 hoặc 45 ngày tuỳ thuộc loại hợp đồng lao động để tránh trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật do vi phạm thời gian thông báo trước. Trong thời gian từ 30 hoặc 45 ngày trước khi hết thời hạn thông báo trước, người lao động vẫn được xem là đang thực hiện hợp đồng lao động. Do đó, doanh nghiệp có thể áp dụng các trường hợp 1, 2 để tính toán việc chi trả lương cho người lao động.