Hội Những Người Học Luật

Hội Những Người Học Luật Dành cho những người học luật hay thích tìm hiểu luật, cập nhật tin tức về các văn bản luật, chính sách mới.

Bàn luận, phân tích về các chế định luật, các điều khoản, các văn bản luật...

11/04/2026

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG VỤ VIỆC “DẬY SÓNG” MXH GIỮA TYM (MỸ THOA) VÀ NHUẬN ĐẠT (TRẦN MINH THÀNH)
(Ranh giới mong manh giữa quyền tự do ngôn luận và vi phạm pháp luật hình sự)
Ngày 11 tháng 4 năm 2026
Thời gian qua trên MXH rất “hot” chuyện giữa Nguyễn Thị Mỹ Thoa (Tym) với Trần Minh Thành (Nhuận Đạt). Bắt đầu từ việc Tym lên MXH “tố” Nhuận Đạt (NĐ) đã có hành vi lợi dụng tín ngưỡng để lừa tình và chiếm đoạt tài sản của Tym. Sau khi MXH dậy sóng, Tym cùng Hoàng Sáu TV (H6) phát hành các clip phỏng vấn đào sâu các vấn đề có liên quan đến chuyện giữa Tym và NĐ và đăng tải công khai trên mạng xã hội. Cộng đồng mạng ban đầu chủ yếu bênh vực Tym trong hình ảnh người phụ nữ nhỏ nhắn, xinh đẹp bên cạnh NĐ gầy gò, ốm yếu không có gì nổi bật.
Mấy ngày sau, NĐ đưa lên MXH văn bản giải trình gồm 40 mục và sau đó bổ sung thêm phần nội dung giải trình liên quan đến nội dung Tym “tố” thì sự việc bắt đầu có chiều hướng cao trào hơn. Cộng đồng mạng một số bênh vực NĐ, một số bênh vực Tym. Vấn đề Tym và NĐ xuất hiện nhiều nhất, nóng nhất trên MXH cũng như truyền thông báo chí.
Sau một loạt các Clip do Tym và Hoàng Sáu TV đăng tải nội dung ngày càng có phần “bất thường” và gần đây Duy Anh là người yêu cũ sống lâu năm với Tym lại lên tiếng “tố” Tym thì phần lớn CĐM đã “quay xe” không còn tin những lời Tym và H6 đã “phân bua” để khẳng định mình là bị hại.
Thông tin mới nhất trên MXH đăng tải là NĐ đã có đơn tố cáo gửi Cơ quan chức năng yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật của Tym và những người liên quan trong vụ việc. Đơn của NĐ đã được thụ lý và đang trong quá trình xác minh giải quyết.
Vụ việc này chắc chắn sẽ sớm có kết luận của các cơ quan chức năng. Bởi sự việc tưởng chứng đơn giản nhưng hậu quả pháp lý của nó lại rất lớn, ảnh hưởng xấu lan rộng trên MXH. Tác động không chỉ đến những người trong cuộc mà phía sau đó còn là cả tổ chức tôn giáo lớn nhất Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thời gian chờ kết luận chính thức, trên góc nhìn của người hoạt động nghiên cứu pháp luật, chúng tôi muốn phân tích một số vấn đề pháp lý trong cuộc “bóc phốt” công khai giữa Tym và NĐ.
Việc sử dụng MXH để “bóc phốt” không còn là điều mới mẻ nhưng không phải ai cũng hiểu hết những vấn đề pháp lý phải đối mặt khi thực hiện hành vi đó. Ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận và vi phạm pháp luật hình sự rất mong manh, hậu quả có thể rất nghiêm trọng.
Trên thực tế nghiên cứu các nội dung, bài viết, clip … do các bên liên quan trong vụ việc “Tym và NĐ” đã đăng tải công khai trên MXH, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:
1. Đưa lên mạng xã hội những thông tin một chiều chưa được kiểm chứng, dấu hiệu của tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.
Suốt thời gian ồn ào, câu chuyện chủ yếu do một mình bên phía Tym đưa ra. Trong các bài viêt, các clip phỏng vấn được công khai trên mạng xã hội (facebook, youtube…) Tym rất nhiều lần khẳng định “Thầy lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Thầy ngủ với cô Chơn Lý, cô Chơn Giải”… nhưng chưa có bất kỳ thông tin nào được kiểm chứng. Tym cũng không đưa ra được chứng cứ để xác thực mà chỉ nghe người khác nói lại hoặc Tym nghĩ vậy?!.
Không những vậy, Tym còn “điểm mặt đặt tên” một số cá nhân khác mà Tym cho rằng cùng với NĐ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Tym mà những nội dung đó cũng chưa được kiểm chứng, không có chứng cứ chứng minh.
Trong khi đó, các thông tin này đã làm rung động cả cộng đồng mạng, ảnh hưởng đặc biệt lớn đến hình ảnh của NĐ, các sư cô và những cá nhân bị Tym nhắc tên, lớn hơn nữa là hình ảnh của tu sĩ Giáo hội phật giáo.
Đây là dấu hiệu cấu thành của tội phạm “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” được quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Chúng ta phải hiểu rằng: Hiến pháp ghi nhận công dân có quyền tự do ngôn luận, là một trong các quyền quan trọng nhất được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, tự do ngôn luận phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật, không xâm hại đến quyền lợi ích của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ.
Rõ ràng Tym và ekip đưa ra rất nhiều nhận định và khẳng định NĐ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quan hệ với nữ tu sĩ khác … nhưng không đưa ra bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh. Các thông tin Tym đưa ra chưa được kiểm chứng và xác thực nhưng tác động của nó là vô cùng lớn trên MXH, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên không gian mạng do Nhà nước quản lý. Đây chính là cấu thành cơ bản của tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ …”.
Chúng ta được quyền tự do đăng bài, tự do bình luận trên MXH nhưng những thôn tin mình đưa ra phải được xác thực, không xâm hại đến quyền lợi của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ. Nếu không ý thức được điều này thì con đường dẫn vi phạm pháp luật hình sự hoàn toàn hiện hữu. Trong vụ việc này nếu đi sâu phân tích rõ ràng Tym có đủ dấu hiệu cấu thành của tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ…”.
2. Đưa lên mạng xã hội những đoạn video chửi bới, đánh đập… dấu hiệu của tội “Làm nhục người khác”.
Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017) quy định về tội làm nhục người khác như sau:
- Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là một trong những quyền cơ bản của công dân. Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo về về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác là hành vi phạm tội.
Hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác quy định tại điều 155 BLHS 2015 có thể thể hiện bằng lời nói hoặc hành động nhằm mục đích hạ thấp nhân cách, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.
Trong quá trình đăng tải các clip, Tym đã đưa lên MXH clip chửi bới, đánh đập NĐ. Lời lẽ chửi bới ghi nhận trong clip có nội dung thô tục, lời lẽ lăng mạ thể hiện: NĐ đã “ngủ” với các nữ tu khác. Trong clip đó tôi còn thấy hình ảnh Tym nổi cơn tam bành, chửi bới, tát NĐ, đập phá đồ đạc trong phòng. Còn NĐ gầy gò đứng co rúm, run rẩy trong bộ áo tràng nâu. Trong các Clip phỏng vấn với Hoàng Sáu TV, Tym xác định đó là lúc Tym phát hiện ra NĐ có quan hệ nam nữ với 02 nữ tu khác.
Sau khi các clip được đăng tải, NĐ chịu một làn sóng chỉ trích từ cộng đồng mạng. Những bình luận xúc phạm, lăng mạ, chửi bới … không thể đếm được.
Rõ ràng hành vi của Tym đăng tải lên MXH Clip chửi mới, đánh đập NĐ với mục đích hạ thấp danh dự, nhân phẩm, uy tín của NĐ có dấu hiệu của tội “Làm nhục người khác” như đã phân tích ở trên.
3. Sử dụng hình ảnh người khác đăng tải trên MXH khi không có sự đồng ý là vi phạm pháp luật.
Khoản 1 Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Quyền hình ảnh của cá nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, theo đó cá nhân được phép sử dụng hình ảnh và cho phép người khác sử dụng hình của mình. Đối với việc sử dụng hình ảnh của cá nhân khác phải được người đó đồng ý.
Do đó, nếu tự ý sử dụng hình ảnh cá nhân khi không được sự đồng ý của là hành vi trái pháp luật sẽ bị áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
Hành vi tiết lộ hình ảnh của người khác mà không được cho phép nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mức phạt hành chính đối với hành vi này là từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng căn cứ tại Khoản 2 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP Hành vi sử dụng trái phép hình ảnh người khác nhằm mục đích vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm trên môi trường mạng. Mức phạt hành chính đối với hành vi này là 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng căn cứ tại Điểm e Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP.
Trong quá trình diễn ra sự việc giữa Tym và NĐ, bản thân Tym và nhiều người khác là nhà báo, youtuber … đăng tải hình ảnh của NĐ trên MXH mà không được sự đồng ý của NĐ. Dẫn đến, hình ảnh NĐ bị phát tán tràn lan trên không gian mạng. Đây là hành vi xâm phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân. Tuy theo tính chất, mức độ mà hành vi này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ở bài viết này, chúng tôi không phân tích hay đề cập đến mối quan hệ nam nữ, mối quan hệ tài sản, làm ăn (nếu có) giữa Tym và NĐ bởi điều đó chỉ là mối quan hệ đời thường giữa người với người. Nếu có tranh chấp thì chỉ dừng lại ở quan hệ dân sự. Ở đây, trên góc mình của người hành nghề luật sư, chúng tôi chỉ đi vào phân tích những vấn đề liên quan đến pháp luật hình sự có thể phát sinh mà quá trình diễn biến sự việc đã xảy ra.
4. Cơ quan có thẩm quyền sẽ sớm có kết luận:
NĐ đã có đơn tố cáo gửi Cơ quan công an có thẩm quyền yêu cầu xem xét giải quyết và đã được thụ lý. Với sự ảnh hưởng nghiêm trọng của sự việc, sự lan truyền chóng mặt các thông tin chưa được kiểm chứng và những yếu tố vi phạm pháp luật như đã phân tích nêu trên, chắc chắn Cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ sớm có kết luận chính thức. Nếu sự việc bị truy cứu thì không chỉ Tym mà cả những người đã lên bài cùng Tym cũng khó có thể tránh khỏi trách nhiệm.
Trước khi có kết luận chính thức từ vụ việc, chúng ta những người ngoài cuộc không nên vì ý chí chủ quan của mình mà đánh giá hay buông lời chửi bới, nhục mạ người khác trên không gian MXH. Ranh giới giữa tự do ngôn luận và vi phạm pháp luật hình sự hết sức mong manh, nếu không hiểu rõ hoàn toàn chúng ta có thể vướng vòng lao lý bất kỳ lúc nào không hay biết./
Duy Thanh

09/08/2017

Hàng trăm hộ dân 2 xã Nhơn Đức và Phước Kiển (huyện Nhà Bè, TP HCM) hơn 7 năm qua đâm đơn khiếu nại khắp nơi. Nguyên nhân, theo họ xuất phát từ việc UBND h

Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai Tại UBND Phường, Xã    Việc tranh chấp đất đai xảy ra khi phân chia tài sản, di sản thừa kế ...
01/03/2016

Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai Tại UBND Phường, Xã

Việc tranh chấp đất đai xảy ra khi phân chia tài sản, di sản thừa kế hay phân chia tài sản khi ly hôn. Một trong những thủ tục pháp lý đầu tiên được áp dụng là hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp phường, xã.
I.Cơ sở pháp lý
1. Luật Đất đai năm 2013: Căn cứ vào Điều 202 Luật Đất đai năm 2013
2. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013
3. Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
II. Hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp phường, xã
1. Các vụ việc được hòa giải tại UBND cấp phường, xã
- Theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai (năm 2003) nay là Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai bắt buộc phải hòa giải tại UBND xã, phường, thị trấn đối với tranh chấp có QSDĐ mà người đó đã có GCN QSDĐ hoặc chưa có GCN QSDĐ.
- Theo khoản 3, Điều 8 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, đối với tranh chấp đất đai liên quan đến QSDĐ sau đây thì không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp. Tuy nhiên pháp luật vẫn khuyến khích các bên tự hòa giải hoặc hòa giải tại Tổ hòa giải, đó là các trường hợp:
+ Tranh chấp về giao dịch liên quan đến QSDĐ (các giao dịch chuyển nhượng, cầm cố, cho thuê, chuyển đổi…)
+ Tranh chấp về thừa kế QSDĐ
+ Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ
Tóm lại:
- Chỉ tranh chấp đất đai của ai là người có QSDĐ mới bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp, còn các trường hợp tranh chấp khác liên quan đến QSDĐ thì không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã, phường nơi có đất tranh chấp.
- Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở (Tổ hòa giải).
2. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai
Thẩm quyền hòa giải
Luật Đất Đai không bắt buộc phải hòa giải tại ấp trước khi tiến hành thụ lý đơn để hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã, mặt khác tại Điều 17 của Luật hòa giải ở cơ sở, các bên có quyền đồng ý hoặc từ chối hòa giải, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải.
+ Thẩm quyền hòa giải là nơi có đất tranh chấp.
Ví dụ: Vợ chồng ông A ở phường, xã Định An huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang tranh chấp đất với vợ chồng ông B ở xã Định Hòa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang. Đất tranh chấp lại ở xã Long Thạnh huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang, thì thẩm quyền hòa giải là xã Long Thạnh của huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang.
+ Về đơn: phải xác định đầy đủ tư cách nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Ví dụ: ông A cho rằng ông B đã chiếm đất của mình, nếu ông A muốn yêu cầu UBND xã hòa giải thì ông A và vợ ông A là đồng nguyên đơn, ông B và vợ ông B là đồng bị đơn.
Lưu ý: Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đất đai đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
Như vậy, trong trường hợp một trong các bên cố tình vắng mặt, UBND cấp xã phải lưu lại biên nhận hoặc giấy tờ thể hiện đã tống đạt giấy mời hòa giải 2 lần, kèm theo là 2 lần lập biên bản về việc không tổ chức hòa giải được (hay hòa giải không thành), có chữ ký của nguyên đơn với lý do bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng.
Hiện nay, kết quả hòa giải thành không có chế tài bắt buộc thực hiện nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, khoản 4 Điều 88 NĐ 43 quy định: Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.
Trình tự thủ tục tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai:
- Cán bộ thụ lý hồ sơ hòa giải phải xem xét nội dung đơn và trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn tranh chấp, phải thông báo cho các bên tranh chấp biết; đồng thời xác định ngày, giờ mời các bên tranh chấp đến để tiến hành hòa giải. Giấy mời phải được cơ quan tổ chức hòa giải gửi trước ít nhất 03 ngày cho các bên tham gia buổi hòa giải.
- Thu thập thông tin: trong quá trình chuẩn bị hòa giải, cán bộ thụ lý hồ sơ hòa giải phải tiếp xúc với các bên tranh chấp để tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp (ghi biên bản lấy lời khai), thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất; đồng thời thẩm tra, xác minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.
-Về biên bản (được quy định tại khoản 2 Điều 88 – NĐ 43): Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung:
+ Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai
+ Thành phần tham dự hòa giải
+ Tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.
Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Lưu ý biên bản gồm từ 2 tờ trở lên phải đóng giáp lai.
Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp.
+ Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
+ Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Lưu ý biên bản ghi cụ thể hoặc tương đối về diện tích đất tranh chấp, thửa đất tranh chấp, vị trí thửa đất tranh chấp, địa chỉ thửa đất tranh chấp.
Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp đất đai có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
3. Thành phần tham gia hòa giải
Chủ tịch UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp không ban hành quyết định giải quyết các tranh chấp về QSDĐ, nhưng có trách nhiệm tổ chức hòa giải.
Hoa giai tranh chap dat dai tai UBND cap phuong, xa
Thành phần hòa giải tranh chấp đất đai (ảnh minh họa)
Thành phần tham gia hòa giải bao gồm:
Thứ nhất là Hội đồng, bao gồm:
- Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã là Chủ tịch Hội đồng
- Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn
- Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; Trưởng thôn, ấp… đối với khu vực nông thôn
- Đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó
- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn
Tùy từng đối tượng tranh chấp và nội dung tranh chấp đất đai, có thể mời thêm các thành phần như: Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư Đoàn Thanh niên…
Thứ hai là: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Về nguyên đơn, bị đơn:
+ Nếu đất xác định là cấp cho cá nhân (ông, bà) tạm xác định là của chung vợ chồng thì phải mời hết các hai vợ chồng tham dự
+ Nếu đất xác định là cấp cho hộ gia đình (đối với trường hợp đã có Giấy chứng nhận QSDĐ) thì phải mời hết tất cả thành viên của hộ gia đình sử dụng đất (từ đủ 15 tuổi trở lên) tham dự
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc là người khi hòa giải vụ tranh chấp đất đai có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
Ví dụ: Ông A đứng tên trong Giấy chứng nhận QSDĐ và nhà ở. Ông A không trực tiếp làm ruộng mà giao cho con làm, trong gia đình còn có các thành viên khác nữa. Khi phát sinh vụ việc tranh chấp QSDĐ giữa ông A và ông B hàng xóm thì xác định con ông A – người trực tiếp đang sử dụng đất là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, các thành viên (đã trưởng thành) trong gia đình ông A là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khi tổ chức hòa giải phải mời cả những người này.
Trường hợp ủy quyền hòa giải:
Trường hợp không tham dự được, thì sau khi đã gửi đơn yêu cầu hòa giải, những người không có điều kiện trực tiếp tham dự hòa giải có thể ủy quyền cho người khác (vợ hoặc chồng hoặc con, anh chị em) tham dự hòa giải tranh chấp đất đai. Việc ủy quyền này phải bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực theo quy định.
4. Nguyên tắc hòa giải
- Khuyến khích các bên tranh chấp tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua Hội đồng hòa giải nhằm hạn chế khiếu nại phát sinh từ cơ sở
- Việc hòa giải phải tranh chấp đất đai phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội và phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; tôn trọng sự tự nguyện của các bên; khách quan, công minh, có lý, có tình; tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích cộng đồng; kịp thời chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, hạn chế những hậu quả xấu khác có thể xảy ra
5. Thời hạn hòa giải
Không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
6. Những trường hợp cần chú ý
Trong thời gian qua, rất nhiều vụ việc hòa giải kéo dài, hòa giải có sai sót do vi phạm các quy định mà Tòa án phải trả về để xã hòa giải lại nên đã gây rất nhiều phiền phức cho đối tượng, đó là:
-Thành phần tham dự hòa giải tranh chấp đất đai không đầy đủ như: Vắng mặt đại diện UBND, UBMT tổ quốc; nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham dự không đầy đủ, như: Chỉ có chồng dự mà không có vợ dự, trong khi đó lại không có giấy ủy quyền; tranh chấp thừa kế QSDĐ các thành viên trong hàng thừa kế tham gia không đầy đủ
- Thành phần tham dự không đúng như: Đất do cha mẹ đứng tên, con đi thay
- Hòa giải sai đối tượng tranh chấp: Tranh chấp thửa đất này, trong biên bản thể hiện hòa giải thửa đất khác

BÀN VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ QUYỀN THỪA KẾ QUA VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT VỤ “TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN”NGUY...
04/11/2015

BÀN VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ QUYỀN THỪA KẾ QUA VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT VỤ “TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ TÀI SẢN”

NGUYỄN NHƯ BÍCH – Nguyên Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao
Tại mục II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã hướng dẫn tương đối cụ thể về áp dụng quy định của pháp luật về thừa kế trong việc xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn có những trường hợp tranh chấp về quyền thừa kế có những tình tiết đặc biệt chưa được hướng dẫn cụ thể nên việc xác định thời hiệu khởi kiện thiếu chính xác, gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của đương sự.
Dưới đây là một trường hợp cụ thể:
Tháng 6/2013 ông L có đơn khởi kiện gửi TAND huyện NT, tỉnh N đề nghị chia di sản của thừa kế của vợ chồng cụ C và cụ T ở xóm 5, xã Đ, huyện NT, tỉnh N (khối di sản này đang do ông Qn quản lý).
TAND huyện NT đã thụ lý đơn khởi kiện của ông L, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “tranh chấp về thừa kế tài sản”, tiến hành các thủ tục chuẩn bị xét xử theo quy định của BLTTDS và đưa vụ tranh chấp ra xét xử sơ thẩm vào cuối tháng 3/2015.
Theo Bản án sơ thẩm số 01 của TAND huyện NT (Bản án ST số 01) thì căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, Hội đồng xét xử sơ thẩm (HĐXX sơ thẩm) đã xác định về nội dung tranh chấp và đã nhận định về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế trong vụ tranh chấp này như sau:
… “Cụ T mất năm 1995, cụ C mất năm 1999, khi qua đời cả hai cụ đều không để lại di chúc vì vậy khi phát sinh việc chia thừa kế sẽ được giải quyết theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật của vợ chồng cụ C thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Đ, ông Qn, ông Qt, bà Tho, ông L và bà Tha…”.
…“Khối di sản của vợ chồng cụ C và cụ T được xác định gồm: 01 nhà cấp bốn trị giá 25.070.000 đồng. Tuy nhiên cần phải tính đến công duy tu, sửa chữa nhà của ông Qn 3.500.000 đồng, ông Qt 6.000.000 đồng, ông L 6.000.000 đồng, giá trị còn lại 9.570.000 đồng (mỗi kỷ phần được hưởng 1.595.000 đồng); 210 m2 đất ở trị giá quyền sử dụng (210 m2 x 400.000 đồng) = 84.000.000 đồng; đất vườn 390 m2 x 75.000 đồng = 29.250.000 đồng; đất ao: 90 m2 x 75.000 đồng = 6.750.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất ở, đất vườn, đất ao là: 120.000.000 đồng (mỗi ký phần được hưởng 20.000.000 đồng). Về đất canh tác 2 lúa: số thửa 5125/13 diện tích 344 m2, số thửa 5055/17 diện tích 142 m2, số thửa 5136/8 diện tích 956 m2; tổng 1442 m2, đây là số ruộng tiêu chuẩn của 03 nhân khẩu hộ cụ C được chia năm 1993, trong đó có tiêu chuẩn ruộng của ông L là 480 m2, còn lại của cụ C và cụ T là 962 m2 x 50.000 đồng/m2 = 48.100.000 đồng, mỗi kỷ phần được hưởng về quyền sử dụng 160,33 m2”.
…“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết và thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm. Thời điểm hết thời hiệu chia thừa kế đối với cụ T vào năm 2005, cụ C vào năm 2009. Tuy nhiên vào năm 1997 ông L phải đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam KS, đến tháng 5/2009 mới trở về địa phương. Đây là trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho ông L không thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của mình. Do vậy khoảng thời gian ông L đi chấp hành án từ năm 1997 đến năm 2009 không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự. Nay ông L khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ C và cụ T là đúng với quy định của pháp luật”.
…“Các đồng thừa kế là ông Qn, bà Tho, bà Đ, bà Tha đều nhường kỷ phần của mình được hưởng đối với toàn bộ đất ở đất vườn, ao cho ông Qn và ông L…”
Cũng theo Bản án ST số 01, căn cứ vào những nhận định nêu trên, HĐXX sơ thẩm đã quyết định:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L;
“1.1 chia cho ông L được thừa kế quyền sử dụng 490 m2 đất thuộc mảnh đất có số thửa 5128…
“1.2 Chia cho ông L được sử dụng đất ruộng hai lúa tiêu chuẩn của mình thuộc hộ cụ C và thừa kế quyền sử dụng đất ruộng hai lúa tại các thửa với diện tích và vị trí như sau:
“- Số thửa 5125/13 tờ bản đồ số 12 diện tích 183 m2…
“- Số thửa 5136/8 tờ bản đồ số 12 diện tích 956 m2…
“- Số thửa 5055/17 tờ bản đồ số 12 diện tích 142 m2…
“1.3 Chia cho ông Đỗ Duy Lệ được sở hữu nhà cấp 4…
“1.4 Ông L phải thanh toán cho ông Qt giá trị quyền sử dụng đất ở, đất vườn, công vượt lấp đất ao, công vượt lấp đất hai lúa tại thửa 5125/13, tiền di dời cây cối tại đất có số thửa 5125/13, tiền duy tu, sửa chữa nhà, kỷ phần về tài sản ông Qt được hưởng đối với nhà cấp 4. Tổng số tiền ông L phải thanh toán cho ông Qt là 42.534.000 đồng…”
“2. Chia cho ông Qn được sử dụng 200 m2 đất (gồm 110 m2 đất vườn, 90 m2 đất ao) tại mảnh đất có số thửa 5129 ở xóm 5, xã Đ…”
“3.1 Chia cho ông Qt được sử dụng 161 m2 đất hai lúa tại số thửa 5125/13…”
“3.2 Ông Qt được nhận tiền thanh toán từ ông L…, tổng số tiền là 42.534.000 đồng…”
Theo nhận định và quyết định của Bản án ST số 01 như trên, có thể thấy rõ là khi giải quyết vụ tranh chấp thừa kế này, HĐXX sơ thẩm đã có quan điểm áp dụng quy định của pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế như sau:
– Khoảng thời gian mà một người trong số các đồng thừa kế đi chấp hành hình phạt tù tại Trại giam thuộc Bộ Công an không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, vì đây là trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người thừa kế đó không thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của mình.
– Mặc dù đã hết thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, nhưng do một người trong số các đồng thừa kế gặp trở ngại khách quan không thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của mình trong khi còn thời hiệu khởi kiện, nên tất cả các đồng thừa kế khác, dù không gặp trở ngại khách quan, cũng đều không bị mất quyền khởi kiện về quyền thừa kế.
Theo chúng tôi, khi giải quyết vụ tranh chấp này HĐXX sơ thẩm đã áp dụng không đúng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế; bởi các lý do sau đây:
Một là:
– Tại Điều 29 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 quy định: “Người đang chấp hành hình phạt tù được hưởng các quyền công dân trừ những quyền bị pháp luật hoặc Toà án tước”.
Trong khi đó, ngoài việc bị Tòa án xử phạt tù, không có chứng cứ nào thể hiện ông L bị Tòa án tước các quyền công dân khác; và như vậy thì trong khoảng thời gian ông L bị thi hành án phạt tù (từ năm 1997 đến 5/2009), ông L vẫn có quyền thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
– Tại Điều 23 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 quy định: “Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, người kết án tù được học pháp luật, giáo dục công dân, học văn hoá, học nghề, được thông tin về chính sách, thời sự phù hợp với điều kiện của trại giam”…
Như vậy, trong khoảng thời gian ông L bị thi hành án phạt tù (từ năm 1997 đến 5/2009), ông L vẫn được học tập để cập nhật các thông tin về pháp luật, về chính sách và tình hình thời sự; chứ ông L không hề bị cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài.
Hơn nữa, ngay từ năm 1990, trước khi ông L bị đưa đi thi hành án phạt tù vào năm 1997, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Thừa kế, và tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế có quy định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là: “Trong thời hạn 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác”. Do đó, ông L không thể cho là mình không thể biết về các quy định này.
– Tại Điều 25 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 2007) quy định: “Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, người bị kết án được gửi, nhận thư, bưu kiện, bưu phẩm, gặp thân nhân, liên lạc bằng điện thoại với thân nhân và nhận quà theo quy định của Chính phủ.”
Như vậy, trong khoảng thời gian ông L bị thi hành án phạt tù (từ năm 1997 đến 5/2009), ông L vẫn có điều kiện để thường xuyên liên lạc với gia đình, nên không thể không biết việc bố đẻ của mình là cụ C đã chết vào năm 1999 (còn việc cụ T chết năm 1995, trước khi ông L đi thi hành án phạt tù vào năm 1997, thì ông L cũng đương nhiên phải biết); đồng thời ông L hoàn toàn có đủ điều kiện để thông qua Ban giám thị trại giam, thông qua gia đình mình thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C và cụ T ngay từ khi thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế vẫn còn.
(Các quy định tại các điều luật nêu trên của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù năm 1993 còn được cụ thể hóa một cách chi tiết tại các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, trong đó có Quy chế trại giam được ban hành kèm theo Nghị định số 113/2008/NĐ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ, mà trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi thấy không cần thiết phải trích dẫn thêm).
Căn cứ theo các định nêu trên của pháp luật về Thi hành án phạt tù thì trong khoảng thời gian ông L bị thi hành án phạt tù (từ năm 1997 đến 5/2009) ông L không thể gặp trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho ông L không thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của mình như nhận định của HĐXX sơ thẩm; trong khi đó, ông L cũng không xuất trình được chứng cứ chứng minh là Ban giám thị trại giam KS đã có hành vi cản trở việc ông L khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ C và cụ T khi đang còn thời hiệu khởi kiện.
Do đó, việc HĐXX sơ thẩm nhận định: “… vào năm 1997 ông L phải đi chấp hành hình phạt tù tại trại giam KS, đến tháng 5/2009 mới trở về địa phương. Đây là trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho ông L không thể thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế của mình…” là không đúng với chính sách, pháp luật về Thi hành án phạt tù của Nhà nước ta. Nhận định không đúng này của HĐXX sơ thẩm vô hình chung có thể dẫn đến nhận thức sai, cho rằng Chính sách thi hành án phạt tù của Nhà nước ta không đảm bảo để các phạm nhân thực hiện đầy đủ quyền công dân theo quy định của pháp luật.
Hai là:
– Điều 645 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.
Như vậy, phải hiểu là thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được quy định và áp dụng đối với cá nhân người thừa kế – là một trong các chủ thể mà Bộ luật dân sự năm 2005 quy định có quyền, nghĩa vụ khi tham gia quan hệ dân sự (các chủ thể đó chỉ bao gồm: Cá nhân, Pháp nhân, Hộ gia đình, Tổ hợp tác - mà không bao gồm Các đồng thừa kế).
– Điều 161 BLDS năm 2005 quy định: “Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây: 1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu…”
Như vậy, phải hiểu là chỉ chủ thể nào có quyền khởi kiện mà gặp sự kiện bất khả kháng thì mới được áp dụng quy định của pháp luật về thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu khởi kiện, chứ không thể áp dụng cả đối với các chủ thể khác không gặp sự kiện bất khả kháng.
Tóm lại, căn cứ vào các quy định nêu trên của BLDS năm 2005 thì ngay cả trong trường hợp cho rằng ông L gặp trở ngại khách quan nên không thể khởi kiện về quyền thừa kế trong thời hiệu khởi kiện (như nhận định không đúng của HĐXX sơ thẩm), thì đến năm 2013 chỉ có một mình ông L là người còn được quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của cụ C và cụ T; còn các ông, bà Đ, Qn, Qt, Tho, Tha đều đã bị mất quyền khởi kiện về quyền thừa kế ngay từ năm 2005 (đối với di sản của cụ Th) và ngay từ năm 2009 (đối với di sản của cụ C). Việc HĐXX sơ thẩm quyết định chia thừa kế di sản của cụ C và cụ T cho cả các ông, bà Đ, Qn, Qt, Tho, Tha là không đúng pháp luật, đã vô hiệu hóa chế định về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế của Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và của BLDS năm 2005 đối với các ông, bà này.
Trên đây là quan điểm của cá nhân tác giả, rất mong các bạn đồng nghiệp cùng trao đổi.
SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Address

Ho Chi Minh City
7000

Telephone

+84986025222

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội Những Người Học Luật posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share