01/08/2026
[CIL NUS ALPA 2026 series]
MÌNH ĐƯỢC HỌC VỚI THẦY WEILER
[Cảnh báo bài rất dài, nhưng đây là ngày học mình tâm đắc nhất trong suốt chuyến này. Nó thực sự sẽ rất có ích nếu bạn đã/đang/sẽ muốn làm nghiên cứu/giảng dạy]
Thành thật là trước khi đi học mình bận túi bụi làm signing nên mình chưa nghiên cứu kĩ hết đợt này mình sẽ được học với những ai. Sáng lại quyết tâm ko cống tiền cho taxi nên kéo vali (để tối bay về VN) lon ton vào lớp thì gặp 1 "bác" tóc bạc đã ngồi nhìn mấy khứa học sinh rồi, lông mày chau lại là biết bác khó tính rồi đó.
Bất ngờ chưa, hôm nay mình được học một "huyền thoại" trong giới học thuật và nghiên cứu luật. Học mà mắt chữ A mồm chữ O với từng lời bác nói, ghi lại từng chút một. Tìm hiểu mới biết bác một học giả lớn trong lĩnh vực luật Liên minh châu Âu, luật quốc tế và luật hiến pháp. Bác Joseph Weiler hiện là University Professor, Joseph Straus Professor of Law và Jean Monnet Chair tại NYU School of Law; từng giảng dạy tại University of Michigan, Harvard Law School và giữ cương vị President of the European University Institute. Trong suốt sự nghiệp, bác đã được trao 17 bằng tiến sĩ danh dự từ các trường đại học tại châu Âu và Hoa Kỳ.
Bác đã ở chặng cuối của một sự nghiệp học thuật rất dài (đi dạy được 49 năm rồi), nhiều lúc nói dài thì phải ngừng để lấy hơi, tự nhiên thấy xúc động quá vì chắc đây sẽ là lần đầu tiên nhưng cũng là duy nhất mình được học bác quá. Mình thề đây là một trong những người có phong cách giảng và thuyết trình cuốn hút nhất mình từng được học. Cách bác đứng lớp lại không hề “già” như tuổi 75 của bác: dí dỏm, sắc bén, đầy năng lượng và nhiệt huyết, bác đi vòng quanh lớp, đặt câu hỏi và nhìn vào mắt học trò "you're with me? Any questions?". Có những lúc bác nói rất nhẹ nhàng, nhưng cả lớp im phăng phắc, có lúc bác lại có những câu đùa rất là duyên luôn. Những điều bác chia sẻ không quá cao siêu, nhưng lại rất chạm, đằng sau mỗi lời nói là trải nghiệm của một người đã dành cả cuộc đời cho nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo nhiều thế hệ học giả, bác vẫn chia sẻ rất chân thành, gần gũi và hóm hỉnh.
Bác trình bày ko có slide, nói và trao đổi liên tục các nội dung sau: Thế nào là 1 bài nghiên cứu tốt, xuất bản nghiên cứu, giảng dạy, trình bày tại hội thảo, và việc sử dụng PowerPoint.
Dưới đây là những gì mình note lại được (có thể mình cũng có điếc lác nên cũng chưa hiểu hết ý bác và có filter qua cách hiểu và đúc rút bản thân), bạn nào muốn đọc nguyên bản có thể tìm đọc series bài "On the way out" của bác để hiểu từ nguyên văn nhe. Dù học 1 ngày thôi nhưng cũng xin phép được gọi bác là thầy ở một số đoạn :)
1. Bài nghiên cứu tốt
(i) Quan trọng nhất là "câu hỏi nghiên cứu", :câu hỏi nghiên cứu". Nhiều người nghĩ nên chọn chủ đề mới lạ, mình không biết và bắt đầu nghiên cứu (như vậy là "tiêu rồi"), nên xuất phát từ lĩnh vực bạn biết và hiểu sâu.
(ii) Mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu: ai đọc, ai được lợi ích gì từ nghiên cứu
(iii) Phải là nghiên cứu "doable", chon đề tài to bự nhưng ko có đủ người, đủ sức + tiền bạc để hoàn thành thì cũng coi như bỏ. Nhiều câu hỏi bắt đầu rất hay và hoàn tráng nhưng rất hay phá sản giữa chừng vì không hoàn thành nổi. Ngoài ra bạn phải thực sự yêu thích đề tài đó, vì nó làm nghiên cứu nghiêm túc nó khó + khổ :))
"You don't write a law book, you write a book about the law. You don't write a legal article, you write an article about the law".
Bài nghiên cứu về luật không phải là viết luật nói gì mà. Dù bạn viết về luật Việt Nam thì người Mỹ đọc cũng phải thấy cần + muốn đọc, và đọc thì phải hiểu được.
- Mình hỏi: Lúc tìm đề tài và câu hỏi nghiên cứu thì mình hay đi từ những vấn đề "pain point" trong thực tế và nghiên cứu và viết, nhưng khi viết xong hoặc thời gian để được đăng nó hết tính mới, tính hot, luật thay đổi hay vấn đề nó ko còn là "pain point" nữa rồi thì sao? Hoặc trong thời gian đang viết thì có 1 số học giả khác đã xuất bản về vấn đề đó trước khi mình hoàn thành luôn rồi.
- Bác trả lời: Dùng "methodology scheme" để tạo ra "doctrinal legal research question". Những case và vấn đề đề cụ thể sẽ là ví dụ để phục vụ cho câu hỏi doctrinal research question đó. Doctrinal research question có thể thọ và có giá trị xuyên thời gian. Ehhh, mình thực sự được khai sáng ở điểm này nhaa.
2. Đừng rơi vào chiếc bẫy công bố
Học thuật ngày nay ngày càng bị chi phối bởi số lượng bài viết, thứ hạng tạp chí, số lượt trích dẫn và các chỉ số “tác động”. Người trẻ dễ bị cuốn vào việc liên tục viết, dự hội thảo, xuất bản và tự quảng bá, đến mức không còn đủ thời gian để đọc sâu và suy nghĩ sâu.
Nhưng bác nhấn mạnh rằng một sự nghiệp học thuật thực sự vẫn cần một vài công trình thật sự có giá trị.
Ba bài viết có trọng lượng trí tuệ lớn có thể giá trị hơn sáu hay bảy bài viết được hoàn thành vội vàng chỉ để làm dài thêm danh mục công bố.
Lời khuyên của bác là tại bất kỳ thời điểm nào, mỗi học giả trẻ cũng nên duy trì ít nhất một dự án trung hạn hoặc dài hạn thực sự tham vọng, một dự án buộc mình phải đi đến giới hạn của khả năng và có thể đóng góp điều gì đó mới cho lĩnh vực nghiên cứu. Phải yêu dự án này thực sự thì mới làm tới nơi tới chốn được.
Đồng thời, phải cố gắng làm chủ chương trình nghiên cứu của mình. Không phải lời mời hội thảo, chương sách hay đề tài có tài trợ nào cũng cần nhận lời. Có những lúc, kỹ năng quan trọng nhất của một học giả chính là biết nói “không” để bảo vệ thời gian, năng lượng và câu hỏi nghiên cứu mà mình thực sự quan tâm.
Có 1 sự thật là 1 bài viết công bố ở các tờ náo uy tín (thu phí, giới hạn access) chỉ có trung bình 6-8 lượt truy cập. Nó đặt ra 1 vấn đề, nếu bạn muốn bài nghiên cứu của bạn đến được với nhiều độc giả thì bạn biết phải cân nhắc bạn sẽ gửi nó tờ báo nào, có free access hay không.
3. Góc nhìn từ các tạp chí và các bước phải đi qua trước khi gửi bài
Bước initial screening là quan trọng nhất, khi bài của bạn đã được gửi cho peer review thì khả năng cao là sẽ được đăng, chỉ cần chỉnh sửa thôi. Chiến thuật là:
(i) Phải tìm hiểu và biết rất rõ về journal bạn gửi bài đến, họ chuyên lĩnh vực gì, phong cách doctrinal...
(ii) cover letter: phải thể hiện bạn đã đọc rất kĩ các bài viết của các bài viết cùng chủ đề của journal này nhưng phải chỉ ra bạn có phản biện và đóng góp gì thêm?
(iii) Abstract: phải làm như trailer phim vậy, cho thấy nó hay nhưng không vội đưa câu trả lời. Không gửi abstract khi chưa làm đủ 3 lần thảo luận + phản biện (có thể là với chính nhóm nghiên cứu của mình, bạn bè, chuyên gia trong lĩnh vực đó). Lần thảo luận 1 và 2: tìm ra toàn bộ lỗi viết lại và hoàn thiện nội dung (what to say). Lần thảo luận 3 là để trình bày và tìm ra cách hiểu quả nhất để ai đọc cũng có thể hiểu được (how to say/write to pursuade the dumpest guy).
Bác không bao giờ gửi 1 bài nghiên cứu trước khi sửa đi sửa lại 7 bản thảo :)
Câu hỏi: American journal luôn yêu cầu CV
Bác trả lời: CV để nhằm mục đích thống kê, không quyết định việc có chấp nhận bài viết không
Câu hỏi liên quan đến reputable hay free access mình có đề cập phía trên rồi.
4. Trình bày tại hội thảo
Một bài thuyết trình không phải là phiên bản rút gọn của bài nghiên cứu. Nó phải là trailer của một bộ phim, xem trailer xong người ta phải muốn xem phim mới là thành công.
Một trong những sai lầm phổ biến nhất tại các hội thảo là cố gắng nhồi toàn bộ bài nghiên cứu dài hàng chục trang vào phần trình bày 15 hoặc 20 phút.
Theo bác, viết một bài nghiên cứu và trình bày bài nghiên cứu đó là hai hoạt động trí tuệ khác nhau. Bài viết có thể dài, nhiều lớp lập luận, đầy đủ ngoại lệ và dẫn chứng. Nhưng phần trình bày phải giúp người nghe nhận ra luận điểm trung tâm và muốn tìm đọc bài viết đầy đủ.
Thay vì cố phục vụ cả một bữa ăn, hãy chọn “món chính” ngon nhất.
Trước khi trình bày, hãy tự hỏi: sau khi rời khỏi căn phòng, nếu một người được hỏi “Tác giả vừa nói điều gì?”, mình muốn họ trả lời như thế nào?
Câu trả lời đó chính là trọng tâm của phần trình bày.
Và hãy tập trước, tính thời gian, hiểu tốc độ nói của chính mình. Việc tôn trọng thời lượng không chỉ là kỹ năng trình bày mà còn thể hiện sự chuyên nghiệp và tôn trọng những diễn giả khác. Đúng b**g 11h hết giờ là bác bái bai.
Chọn 1-3 điểm quan trọng nhất. Để người ta còn nắm được, thay vì nói tràn lan mà không ai hiểu được gì.
5. Giảng dạy có thể là phần cao quý nhất của nghề học thuật
Đây có lẽ là phần khiến mình xúc động nhất.
Trong môi trường đại học, thành tích nghiên cứu thường quyết định tuyển dụng, thăng tiến và danh tiếng. Giảng dạy luôn được nói là quan trọng, nhưng trên thực tế lại ít khi được đánh giá tương xứng.
Tuy nhiên, bác cho rằng nếu một người quan tâm đến việc để lại di sản, di sản ấy có khả năng nằm trong tâm trí và ký ức của sinh viên nhiều hơn trong những bài báo học thuật.
Một môn học tốt không chỉ truyền đạt những quy định pháp luật hiện hành. Luật luôn thay đổi: luật mới, án lệ mới, điều ước mới và những cách hiểu mới sẽ liên tục xuất hiện. Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hơn của người thầy là giúp sinh viên trở thành những người có khả năng tự học suốt đời: biết đọc văn bản pháp luật một với tư duy phản biện, biết nghiên cứu, biết đặt câu hỏi và có khả năng xử lý những vấn đề chưa từng được giảng trên lớp. Để sau này có làm gì thì tư duy đúng sẽ tạo ra good scholars, good lawyers.
Bác cũng chia sẻ nhiều cách dạy rất riêng. Bác kết hợp giảng bài với thảo luận và các bài tập thực hành; chuẩn bị lại bài giảng mỗi năm thay vì sử dụng mãi một bộ ghi chú (đúng ra là 5 năm mới đổi 1 lần vì bác lười); khi sinh viên im lặng trước một câu hỏi khó, bác cho họ vài phút trao đổi với nhau rồi mới hỏi lại.
Bác không muốn sinh viên chỉ ghi chép như những người tốc ký. Bác muốn họ thực sự hiện diện trong lớp, lắng nghe, suy nghĩ và tranh luận. Ví dụ bài thi, cho 1 case viết 1 appeal, cho 1 điều khoản yêu cầu viết lại điều khoản cho rõ ràng, hoàn thiện hơn, thi mở + thi viết.
- Câu hỏi: giảng dạy và AI
- Bác trả lời: lấy ví dụ cho 1 cái case phức tạp cho AI giải, yêu cầu sinh viên phản biện câu trả lời của AI.
Thông điệp của bác rất giản dị: Embrace teaching, hãy thực sự đón nhận và trân trọng việc giảng dạy.
6. Viết thư giới thiệu là một trách nhiệm học thuật nghiêm túc (phần này mình đọc trong bài viết của bác)
Thư giới thiệu không nên chỉ là một tập hợp những mỹ từ như “xuất sắc”, “tốt nhất” hay “đặc biệt nổi bật”.
Điều quan trọng không phải là người viết thư có danh tiếng lớn đến đâu, mà là họ có thực sự hiểu ứng viên và có thể cung cấp những thông tin cụ thể, trung thực mà hồ sơ điểm số hay CV không thể hiện được hay không.
Người viết thư có trách nhiệm với cả ứng viên và cơ sở đang tuyển chọn. Vì vậy, thư giới thiệu cần giúp hội đồng hiểu rõ hơn về con người, năng lực nghiên cứu, cách tư duy, điểm mạnh và cả những giới hạn của ứng viên.
Nếu không đủ hiểu một sinh viên để viết một lá thư có nội dung thực chất, người thầy nên thẳng thắn nói điều đó. Không nên yêu cầu ứng viên tự soạn thư cho mình ký. Và một khi đã nhận lời, việc bỏ lỡ thời hạn là điều không thể chấp nhận.
7. PowerPoint là công cụ, không phải là tư duy
Bác gọi PowerPoint một cách châm biếm là “WeakPoint”.
PowerPoint có thể hữu ích khi trình bày biểu đồ, bảng biểu hoặc hình ảnh thực sự cần thiết. Nhưng việc sử dụng quá mức có thể biến những vấn đề phức tạp thành vài gạch đầu dòng đơn giản, khiến người dạy và người học chỉ tập trung vào kết luận mà bỏ qua quá trình suy luận, sự mơ hồ và những câu hỏi chưa có đáp án.
Các slide cũng dễ làm cho bài giảng trở nên cứng nhắc. Người trình bày đi theo một con đường đã được định sẵn, ít quan sát phản ứng của người nghe và ít sẵn sàng thay đổi hướng thảo luận.
Đặc biệt với một phần trình bày ngắn, bác cho rằng không có gì mạnh mẽ hơn lời nói, ánh mắt và một cuộc đối thoại trực tiếp với khán giả. Nhìn thấy người nghe bối rối thì giải thích lại; cảm nhận họ mất tập trung thì đưa ra một ví dụ; nhận ra họ đã hiểu thì có thể đi sâu hơn. Buổi chiều bác giảng về trade dispute settlement bác đã thực sự làm như những gì bác khuyên các educator buổi sáng, chiều giảng ở phỏng bự hơn, dù tuổi già nhưng bác vẫn đi khắp phòng để eye contact, đưa mic, lắng nghe các câu trả lời làm mình thấy xúc động quá. Ở tuổi này sao bác vẫn giữ được niềm đam mê với việc mình làm như vậy?
PowerPoint nên được sử dụng có chọn lọc, tiết chế và chỉ khi nó thực sự phục vụ cho ý tưởng, không phải để thay thế ý tưởng. Mình sợ mình bị khùng khi đi dạy hay training mình không thực sự quá chú tâm vào powerpoint, nhưng sau hôm nay mình tự tin là mình đang làm đúng. Trong thế giới máy này, nếu việc đọc powerpoint mà thay thế được đi học thì sinh viên chả cần đến lớp làm gì cả.
Kết bài: Điều mình nhận được từ bác không chỉ là một số “tips” để viết bài, đi hội thảo hay đứng lớp tốt hơn.
Đằng sau tất cả những lời khuyên ấy là một quan niệm rất đẹp về đời sống học thuật: nghiên cứu không phải là một dây chuyền sản xuất bài báo; giảng dạy không phải là nghĩa vụ làm cho xong; thư giới thiệu không phải là một ân huệ xã giao; hội thảo không phải là sân khấu để thể hiện bản thân; và công nghệ không thể thay thế cho tư duy.
Có lẽ điều xúc động nhất là khi một người đã đạt đến vị trí rất cao trong giới học thuật nhìn lại sự nghiệp của mình, bác không dành thời gian kể về những thành tựu. Bác dành thời gian chỉ ra những sai lầm, kể cả những sai lầm chính mình từng mắc phải, để những người đi sau không phải lãng phí quá nhiều năm cho những điều không thật sự quan trọng. Và bác thật sự là 1 tượng đài cho việc học tập và giảng dạy suốt đời.
Với mình, một người vừa hành nghề luật, vừa tham gia giảng dạy và đang suy nghĩ về con đường PhD (chả biết khi nào mới làm được) nhưng nhờ có nó mình đã được gặp "thầy", gặp các giáo sư và các bạn educator khác chẳng phải đã là được quá nhiều rồi sao? Việc gặp bác hôm nay thật sự đã truyền cảm hứng và khích lệ mình rất nhiều.
Một người thầy có thể kết thúc một buổi học, nhưng điều người thầy ấy khơi lên trong sinh viên có thể còn ở lại rất lâu...
NUS, Singapore 31 Jul 2026.
Kỉ niệm, bài phải viết hoàn thiện trong 2 chuyến bay từ Sing về HCM và từ HCM về TH :)
Đang còn trong đầu 2 bài nữa, đợt này đi thu lượm được nhiều thứ thú vị quáaaa.