21/10/2021
🤔 TẠI SAO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM CHỨNG MINH TỘI PHẠM THUỘC VỀ CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG?
⚖ Điều 15 BLTTHS 2015 quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.
⚖ Điều 13 BLTTHS năm 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.
🍏 CÓ 3 Ý CHÍNH ĐỂ TRẢ LỜI CHO CÂU HỎI NÀY
🐳 Thứ nhất, đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm.
Đây là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
🐳 Thứ hai, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm a khoản 1 Điều 4)
Trong đó:
+ Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ( khoản 1 Điều 34);
+ Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 35).
Đây là những cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nước, có đủ các điều kiện như năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trách nhiệm,… để chứng minh tội phạm.
🐳 Thứ ba, nếu giao nghĩa vụ chứng minh vô tội cho người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo – điểm đ khoản 1 Điều 4) thì sẽ đặt nhóm người này vào tình thế bất lợi do họ không có đầy đủ các điều kiện về năng lực chuyên môn nghiệp vụ hay các thuận lợi khác,… để chứng minh bản thân mình vô tội.
-------
Cảm ơn các bạn đã theo dõi.
Chúng ta hãy cùng khởi động với câu hỏi tưởng dễ nhưng rất khó trả lời đầy đủ ý này nhé!