15/08/2026
TÌNH HUỐNG: TRANH CHẤP VỀ TÊN DOANH NGHIỆP VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
[Bản án số: 319/2023/HC-PT Ngày: 11/9/2023 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp”]
Xét kháng cáo của Công ty cổ phần V, Hội đồng xét xử thấy: [2.1] Xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h: Công ty Cổ phần V được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 08/10/2005, đăng ký thay đổi lần thứ sáu ngày 21/6/2019 với tên Công ty viết bằng tiếng Việt là: CÔNG TY CỔ PHẦN V, có địa chỉ trụ sở chính tại: C N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Tại Giấy phép số 0401930330 ngày 12/10/2018, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; tên công ty viết tắt là CÔNG TY TNHH V; địa chỉ trụ sở chính tại: B T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng;
Tại Giấy phép số 0402049326 ngày 30/06/2020, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; địa chỉ trụ sở chính tại: H L, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng;
Tại Giấy phép số 0402133641 ngày 26/01/2022, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; tên Công ty viết tắt bằng tiếng nước ngoài là 24H THUAN THANH TRANSPORT COMPANY LIMITED; tên viết tắt là: 24H THUAN THANH TRANSPORT CO., LTD; địa chỉ trụ sở chính tại 1 L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Theo quy định tại Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2014, và Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì tên doanh nghiệp bao gồm hai thành tố, đó là loại hình doanh nghiệp và tên riêng. Do đó, để có đủ căn cứ xác định tên doanh nghiệp trùng và gây nhầm lẫn thì tên doanh nghiệp đó phải giống nhau cả về loại hình doanh nghiệp và tên riêng.
Do các Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V đăng ký lần đầu ngày 12/10/2018; Công ty TNHH V 24h đăng ký lần đầu ngày 30/6/2020 nên áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2014 để giải quyết; đối với Công ty TNHH V 24h đăng ký lần đầu ngày 26/01/2022 nên áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2020 giải quyết.
Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, và Điều 41 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tên doanh nghiệp bị coi là trùng và gây nhầm lẫn, cụ thể như sau: “1. Tên trùng là tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được viết hoàn toàn giống với tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký. 2. Các trường hợp được coi là tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký bao gồm: a) Tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được đọc giống tên doanh nghiệp đã đăng ký; b) Tên viết tắt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp đã đăng ký; c) Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký; d) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một số tự nhiên, một số thứ tự hoặc một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, chữ F, J, Z, W được viết liền hoặc cách ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó; đ) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một ký hiệu “&” hoặc “và”, “.”, “,”, “+”, “-”, “_”; e) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước hoặc từ “mới” được viết liền hoặc cách ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký; g) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một cụm từ “miền Bắc”, “miền N”, “miền T4”, “miền T5”, “miền Đ”; h) Tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký. 3. Các trường hợp quy định tại các điểm d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này không áp dụng đối với công ty con của công ty đã đăng ký”.
Theo các quy định nêu trên, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp không trùng loại hình doanh nghiệp và tên riêng, cũng không gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp mà Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ đã cấp cho Công ty Cổ phần V. Việc Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 26, 27, 28 và Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/1/2021 của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp. Do đó, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP V về việc tuyên hủy các Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp cho Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
TÌNH HUỐNG: TÊN DN VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
[Bản án số: 04/2021/KDTM-ST Ngày 10-5-2021 của TAND tỉnh Bình Dương V/v tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ]
[2] Nguyên đơn đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 23/11/2007 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Mã số doanh nghiệp 0303104343) do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp với tên gọi Công ty TNHH Dịch vụ Xây dựng Địa ốc ĐX. Nguyên đơn đăng ký thay đổi lần 21 ngày 02/4/2019 với tên gọi hiện nay là Công ty Cổ phần TĐ ĐX. Nghành nghề kinh doanh chính (Mã số 6810) là: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Bị đơn đăng ký tên doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Mã số doanh nghiệp 3702745760) đăng ký lần đầu ngày 28/02/2019, tên gọi là “CÔNG TY TNHH ĐTPTĐO ĐX”. Nghành nghề kinh doanh của bị đơn theo Công văn số 403/ĐKKD ngày 13/4/2021 của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án truy cập website: dangkykinhdoanh.gov.vn. Theo kết quả tra cứu website: dangkykinhdoanh.gov.vn thể hiện bị đơn cũng đăng ký ngành nghề kinh doanh chính (Mã số 6810) là: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Như vậy, nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề chính là kinh doanh bất động sản. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn đã dùng tên thương mại, nhãn hiệu “ĐX” trong hoạt động kinh doanh trước khi bị đơn được thành lập và đăng ký kinh doanh năm 2019.
[3] Nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu như sau:
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 120848 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp cho Công ty TNHH Dịch vụ Xây dựng Địa ốc ĐX (tên cũ của nguyên đơn) theo Quyết định số 4447/QĐ-SHTT ngày 05/3/2009 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 14/9/2007, ngành nghề đăng ký bảo hộ là mua bán nhà, môi giới bất động sản, cho thuê nhà ở, văn phòng và xưởng sản xuất...
+ “DX GROUP” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 252282 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 61477/QĐ- SHTT ngày 02/10/2015 cho Công ty Cổ phần DV & XD ĐO ĐX có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 26/9/2013, ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 346564 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 17771/QĐ-SHTT ngày 05/03/2020 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 03/10/2018, ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 3465645 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 17772/QĐ-SHTT ngày 05/03/2020 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 03/10/2018, Ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
Theo Biên bản xác minh ngày 24/3/2021 thể hiện bị đơn đang treo biển hiệu của công ty ghi tên: “CÔNG TY TNHH ĐTPTĐO ĐX” và ghi rõ “MST 3702745760” hoàn toàn trùng khớp với mã số doanh nghiệp mà công ty đã đăng ký kinh doanh nêu trên (theo như phân tích tại mục [2]). Vì vậy, nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nhãn hiệu mà nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ là có cơ sở.
[3] Theo khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.
Nguyên đơn đã đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định. Theo khoản 1, 2 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ như sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.”. Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại: “a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó; b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;”. Bị đơn hoạt động kinh doanh cùng ngành nghề nhưng sử dụng cụm từ “ĐX”, “ĐX” để đăng ký cấu thành tên doanh nghiệp là trùng với nhãn hiệu mà nguyên đơn đã đăng ký và trong thời gian bảo hộ nên đã xâm phạm quyền của nguyên đơn theo các quy định trên.
[4] Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình: “b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; d) Khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” Theo Biên bản xác minh ngày 05/8/2020 tại Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin: Công ty Cổ phần TĐ ĐX có đơn khiếu nại Công ty TNHH ĐTPTĐO ĐX tại đơn vị nhưng nếu doanh nghiệp vi phạm không còn hoạt động thực tế, không còn sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ thì sẽ trả lại đơn, không xử lý được. Nguyên đơn đã thực hiện quyền khiếu nại tại Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương nhưng không được giải quyết. Vì vậy, việc nguyên đơn lựa chọn khởi kiện bị đơn tại Tòa án là phù hợp quy định.
Tại khoản 1, 2 Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp quy định về xử lý đối với trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như sau: “1. Không được sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá nhân đã được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đó...” và “Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu đặt tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì doanh nghiệp có tên vi phạm phải đăng ký đổi tên.”. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu “ĐX” để đăng ký tên doanh nghiệp, buộc xin lỗi cải chính công khai 03 lần liên tiếp trên Báo Công lý là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc thi hành bản án cần thiết phải kiến nghị Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương buộc bị đơn phải thay đổi tên gọi cho phù hợp để không xâm phạm đến quyền đã được bảo hộ của nguyên đơn.