Công ty Luật TNHH BLT Lawyers

Công ty Luật TNHH BLT Lawyers Hotline: 0906112959

Công ty Luật TNHH MTV BLT Lawyers là hãng luật chuyên tư vấn và bảo vệ quyền lợi cho khách hàng về mảng pháp luật doanh nghiệp, đầu tư, hợp đồng, quản trị công ty, lao động, kinh doanh bất động sản, tài chính và giải quyết tranh chấp!

20/08/2026

TÒA CHẤP NHẬN THỎA THUẬN “ĐA TẦNG” VỀ LÃI CHẬM THANH TOÁN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA:

[Các bạn nhắn email ở phần comment để BLT gửi toàn văn bản án rất hay này nhé]

Khoản 4.2 Điều 4 hợp đồng ký kết giữa hai bên thỏa thuận: “Công ty V thanh toán cho Công ty Đ 100% giá trị các lô hàng trong vòng 140 ngày kể từ ngày giao hàng và đã nhận được hồ sơ thanh toán nêu tại khoản 4.3 Điều này. Trong trường hợp, Công ty V thanh toán chậm sau 140 ngày theo thời hạn thanh toán trong khoản này, Công ty V sẽ phải chịu lãi suất trả chậm là 15%/năm trên tổng giá trị chậm trả nhưng không được quá 90 ngày. Nếu quá thời gian này, Công ty V sẽ phải chịu lãi suất bằng 150% lãi suất trả chậm trên tổng giá trị chậm trả”.

Tòa án: Thỏa thuận này phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu tính lãi của Công ty Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

🚀 KHÓA HỌC ĐẶC BIỆT CHUYÊN SÂU VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI [KHAI GIẢNG 25/9/2026]:"KỸ NĂNG SOẠN THẢO – RÀ SOÁT &...
20/08/2026

🚀 KHÓA HỌC ĐẶC BIỆT CHUYÊN SÂU VÀ THỰC TIỄN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI [KHAI GIẢNG 25/9/2026]:

"KỸ NĂNG SOẠN THẢO – RÀ SOÁT & XỬ LÝ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI [KHÓA 26]

Một điều khoản sơ sài có thể khiến doanh nghiệp mất hàng tỷ đồng.

Rất nhiều doanh nghiệp chỉ nhận ra giá trị của một hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ khi tranh chấp đã xảy ra.

Thực tế cho thấy, phần lớn các vụ kiện thương mại không xuất phát từ việc không có hợp đồng, mà đến từ hợp đồng được soạn chưa đầy đủ, điều khoản thiếu chặt chẽ hoặc không dự liệu được các rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện.

Một điều khoản thanh toán chưa rõ ràng, ột quy định giao hàng thiếu chặt chẽ, một cơ chế bồi thường hoặc giới hạn trách nhiệm chưa hợp lý...đều có thể khiến doanh nghiệp mất quyền đòi bồi thường, kéo dài tranh chấp nhiều năm hoặc chịu những thiệt hại rất lớn.

Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh ngày càng phức tạp, chuyển đổi số, ESG, dữ liệu cá nhân, thương mại quốc tế và các giao dịch xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, hợp đồng không còn đơn thuần là văn bản ghi nhận thỏa thuận, mà đã trở thành công cụ quản trị rủi ro, kiểm soát giao dịch và bảo vệ tài sản của doanh nghiệp.

CHƯƠNG TRÌNH ĐƯỢC THIẾT KẾ THEO CHUẨN EXECUTIVE EDUCATION
Khóa học được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa:
✅ Pháp luật Việt Nam mới nhất
✅ Thông lệ thương mại quốc tế (Incoterms®, CISG và các thông lệ quốc tế)
✅ Kinh nghiệm tư vấn cho doanh nghiệp
✅ Phân tích các bản án và phán quyết trọng tài thực tế

Mục tiêu của chương trình không chỉ giúp học viên hiểu pháp luật, mà quan trọng hơn là biết cách xây dựng một hợp đồng đủ mạnh để phòng ngừa tranh chấp và bảo vệ doanh nghiệp trong thực tiễn.

SAU KHÓA HỌC, HỌC VIÊN SẼ LÀM ĐƯỢC GÌ?
✔ Nhận diện đầy đủ rủi ro pháp lý trong toàn bộ vòng đời của hợp đồng, từ đàm phán, ký kết, thực hiện, sửa đổi đến chấm dứt và giải quyết tranh chấp.
✔ Thiết kế cấu trúc hợp đồng chuyên nghiệp theo từng loại giao dịch và mô hình kinh doanh.
✔ Thành thạo kỹ năng soạn thảo và rà soát các điều khoản trọng yếu như giá, thanh toán, giao nhận, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bảo hành, giới hạn trách nhiệm, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm, bất khả kháng, chia sẻ rủi ro, chấm dứt hợp đồng, luật áp dụng và giải quyết tranh chấp.
✔ Xây dựng các điều khoản hiện đại theo thông lệ quốc tế như ESG, bảo mật thông tin, dữ liệu cá nhân, chống tham nhũng, sanctions, sở hữu trí tuệ, non-compete, điều kiện tiên quyết, tái đàm phán hợp đồng...
✔ Phát hiện "điểm mù" trong hợp đồng trước khi ký để hạn chế tối đa nguy cơ tranh chấp và tổn thất tài chính.
✔ Biết cách chuẩn bị chứng cứ, hồ sơ và lựa chọn chiến lược thương lượng, hòa giải, trọng tài hoặc Tòa án khi phát sinh tranh chấp.
✔ Phân tích hàng loạt bản án, phán quyết trọng tài và các tình huống thực tế để rút ra bài học có thể áp dụng ngay cho doanh nghiệp.
✔ Thực hành trực tiếp trên các mẫu hợp đồng thực tế dưới góc nhìn của luật sư tư vấn và người giải quyết tranh chấp.

ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA CHƯƠNG TRÌNH
⭐ Tiếp cận theo tư duy Quản trị rủi ro hợp đồng, thay vì chỉ học quy định pháp luật.
⭐ Kết hợp giữa pháp luật Việt Nam và thông lệ thương mại quốc tế.
⭐ Phân tích hàng trăm hợp đồng thực tế, bản án và phán quyết trọng tài để chỉ ra nguyên nhân thắng – thua trong từng vụ việc.
⭐ Cập nhật các điều khoản hiện đại mà nhiều tập đoàn đa quốc gia đang áp dụng trong các giao dịch xuyên biên giới.
⭐ Đào tạo theo phương pháp "learning by doing", học đến đâu áp dụng được đến đó.
⭐ Học viên có thể trao đổi trực tiếp các hợp đồng và tình huống thực tế của doanh nghiệp để được giảng viên hướng dẫn xử lý.

GIÁ TRỊ ĐẶC BIỆT CHỈ CÓ TẠI BLT
Toàn bộ chương trình là sự đúc kết từ gần 20 năm nghiên cứu, giảng dạy, tư vấn doanh nghiệp và tham gia giải quyết tranh chấp thương mại của Thầy Từ Thanh Thảo.
Không chỉ chia sẻ kiến thức pháp luật, khóa học tập trung vào:
• Tư duy quản trị hợp đồng.
• Kỹ thuật đàm phán điều khoản.
• Nghệ thuật phân bổ rủi ro.
• Kinh nghiệm xử lý tranh chấp.
• Những "bí quyết" thực chiến mà rất ít tài liệu hoặc chương trình đào tạo đề cập.

QUYỀN LỢI HỌC VIÊN
🎁 Được tặng toàn bộ link record video của 12 buổi khóa học trước để học trước khi khai giảng (đóng học phí một lần nhưng được học tương đương hai khóa).
🎁 Tặng 100+ mẫu hợp đồng thương mại thực tế có thể sử dụng ngay trong doanh nghiệp.
🎁 Video ghi hình đầy đủ để xem lại không giới hạn.
🎁 Được trao đổi và nhận tư vấn về các tình huống thực tế trong quá trình học.
🎁 Cấp Giấy chứng nhận hoàn thành khóa học của Business Law Training (BLT).

THÔNG TIN KHAI GIẢNG
📅 Khai giảng: 25/9/2026
🕖 Lịch học: 12 buổi tối Thứ Hai – Tư – Sáu hàng tuần gồm: 25/9, 28/9, 30/9, 2/10, 05/10, 07/10, 09/10, 12/10, 14/10, 16/10, 19/10, 21/10/2026 [19:00-21:00]
➕ Tặng thêm 01 buổi miễn phí

💻 Học trực tuyến qua Google Meet
📹 Có video ghi hình để xem lại không giới hạn.

ĐỐI TƯỢNG PHÙ HỢP
• Chủ doanh nghiệp
• Thành viên HĐQT, Ban Giám đốc
• Luật sư, Luật gia
• Chuyên viên pháp chế doanh nghiệp
• Chuyên viên hợp đồng
• Chuyên viên mua hàng
• Chuyên viên kinh doanh
• Chuyên viên đầu tư
• Chuyên viên xuất nhập khẩu
• Quản lý dự án
• Sinh viên Luật định hướng nghề nghiệp pháp chế doanh nghiệp

HỌC PHÍ ƯU ĐÃI
💰 Học phí gốc: 6.000.000 đồng
Ưu đãi đăng ký trước 15/9/2026:
✅ Cá nhân: 3.600.000 đồng
✅ Nhóm 2–4 học viên: 3.300.000 đồng/suất
✅ Nhóm từ 5 học viên: 3.000.000 đồng/suất
✅ Sinh viên Luật đăng ký theo nhóm từ 3 người: 1.800.000 đồng/suất
✅ Học viên cũ của BLT: giảm thêm 10%
✔ BLT Xuất hóa đơn VAT.

DÀNH RIÊNG CHO DOANH NGHIỆP: BLT nhận thiết kế và tổ chức các chương trình đào tạo in-house theo nhu cầu của từng doanh nghiệp, với nội dung được "đo ni đóng giày" theo ngành nghề, mô hình hoạt động và các hợp đồng thực tế mà doanh nghiệp đang sử dụng.

📞 ĐĂNG KÝ NGAY [GIỚI HẠN 30 SUẤT ĐĂNG KÝ NHANH NHẤT]:
Luật sư Lê Thị Thu Hường
☎️ 0906.112.959 (Zalo)

Đừng đợi đến khi tranh chấp xảy ra mới nhận ra giá trị của một hợp đồng được soạn thảo đúng cách.
Hãy đầu tư vào năng lực quản trị hợp đồng ngay hôm nay để bảo vệ tài sản, kiểm soát rủi ro và tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.

Business Law Training – BLT

20/08/2026

ĐIỀU CHỈNH CHẤP THUẬN CHỦ TRƯƠNG ĐẦU TƯ DỰ ÁN:

Có đại diện Ban quản lý Khu công nghiệp hỏi: "Thưa Thầy cho em hỏi: Đối với dự án đầu tư đã được chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư (nhà đầu tư nước ngoài), hiện nay nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án thì có cần phải làm thủ tục điều chỉnh chấp thuận chủ trường đầu tư hay không."

19/08/2026

TÒA GIẢI THÍCH VỀ “HỢP ĐỒNG TRỌN GÓI” TRONG TRANH CHẤP VỀ HĐ XÂY DỰNG

[Các bạn nhắn email ở phần comment để BLT gửi toàn văn bản án rất hay này nhé]

Một bản án tiêu biểu về việc tòa giải thích khoản 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia”

[7] Hội đồng xét xử nhận thấy:
- khoản 8.1 Điều 8 Hợp đồng các bên thỏa thuận về hình thức hợp đồng như sau:“Hợp đồng là trọn gói (nếu bên A - công ty X) không điều chỉnh thiết kế, không thay đổi vật liệu hoàn thiện, không thay đổi biện pháp thi công và hạng mục thi công theo dự toán đính kèm thì bên B (công ty T) có trách nhiệm hoàn thành và bàn giao công trình đúng hồ sơ thiết kế …”;

- tại Điều 9 Hợp đồng quy định điều chỉnh giá hợp đồng trong các trường hợp: “1. Có sự thay đổi về chủng loại vật tư, máy móc thiết bị, biện pháp thi công, nội dung thi công nêu trong bảng dự toán); thay đổi về khối lượng thi công (thay đổi bản vẽ thiết kế so với thiết kế do Cityland ban hành); 2. Tất cả
hạng mục nằm ngoài hợp đồng (dự toán đính kèm) được xem là hạng mục phát sinh…”.

Như vậy, nội dung thỏa thuận “hợp đồng là trọn gói” trong Hợp đồng là chưa rõ ràng dẫn đến các bên có cách hiểu khác nhau.

[10] Tại phiên tòa:
- Phía công ty X giải thích cách hiểu “hợp đồng trọn gói” là trong trường hợp không có bất kỳ sự thay đổi nào trong Hợp đồng và trong Bảng dự toán chi tiết đính kèm với Hợp đồng, đối với thay đổi về hạng mục thi công và thay đổi về tăng/giảm khối lượng thi công thì phải tính lại theo thực tế.

- Phía công ty Kiến trúc T giải thích cách hiểu “ Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng” do đó đối với những nội dung (hạng mục) được nêu trong bảng báo giá chi tiết mà công ty Kiến trúc T có thi công thì phải được tính theo giá đã ghi theo từng hạng mục mà không được xét lại khối lượng chi tiết.

[11] Hội đồng xét xử nhận thấy Hợp đồng và các Bảng dự toán chi tiết là do phía công ty Kiến trúc T soạn thảo để làm cơ sở xác định giá Hợp đồng khi giao kết, theo Bảng dự toán thì hạng mục “ Cung cấp lắp đặt đá cho mặt tường tầng trệt” có: khối lượng 297,1 m2; đơn giá vật tư 1.450.000 đồng/m2; đơn giá nhân công là 250.000 đồng/m2; thành tiền là 505.070.000 đồng. Nên việc giải thích theo cách hiểu của công ty Kiến trúc T là có lợi cho công ty Kiến trúc T vì thực tế thi công chỉ có 164,27m2 (ít hơn 132,83m2) nhưng vẫn được trả đầy đủ tiền, và thiệt thòi cho công ty X vì phải tiền cho những công việc không có.

Do vậy, căn cứ khoản 6 Điều 404 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Trường hợp bên soạn thảo đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên kia thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên kia” và nguyên tắc thiện chí, trung thực, bình đẳng trong giao dịch dân sự nói chung và trong giao kết hợp đồng xây dựng được quy định tại khoản 2 Điều 138 Luật Xây dựng, Hội đồng xét xử chấp nhận cách giải thích của công ty X.

Công ty X yêu cầu phải tính khối lượng phát sinh giảm đối với hạng mục đá ốp tường và hạng mục đá chỉ đầu cửa để trừ vào giá trị phải thanh toán của Hợp đồng là có cơ sở, bản án sơ thẩm đã tuyên chấp nhận các yêu cầu của công ty X xác định số tiền phát sinh giảm phải đưa vào hồ sơ quyết toán là 291.811.000 đồng là phù hợp. Kháng cáo của công ty Kiến trúc T về nội dung này không được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận.

19/08/2026

TÒA PHÂN BIỆT GIỮA “ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG VÀ ĐƠN PHƯƠNG HỦY BỎ HỢP ĐỒNG” LÀ KHÁC NHAU?

[Các bạn nhắn email ở phần comment để BLT gửi toàn văn bản án rất hay này nhé]

Một bản án tiêu biểu về việc tòa giải thích khoản 1 Điều 404 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình, tại thời điểm xác lập hợp đồng”

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Chế biến Gỗ T. Địa chỉ: Số 00, đường D, Khu công nghiệp MP, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Công ty TNHH Giấy K. Địa chỉ: Lô D, Khu công nghiệp M, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Theo nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng kinh tế số 6420000743 ngày 01/10/2017 và Hợp đồng kinh tế số 6420000781 ngày 16/11/2017, tại Điều V quy định về trách nhiệm của các bên, quy định trách nhiệm của bên A như sau:“...
- Trong trường hợp bên A đơn phương hủy hợp đồng mà không do lỗi của bên B thì bên A phải trả toàn bộ giá trị của số lượng còn lại cho nên B.
- Bên A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không phải trả bất kỳ chi phí nào nếu bên B ngưng giao hàng cho bên A mà không thông báo cho bên A và không có sự đồng ý của bên A”.

- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về nội dung vụ án: Có căn cứ xác định Công ty TNHH giấy K có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng, do đó phải chịu trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên tại Điều V Hợp đồng kinh tế số 6420000743 ngày 01/10/2017 và Hợp đồng kinh tế số 6420000781 ngày 16/11/2017. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 12/2018/KDTM - ST ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Bị đơn cho rằng việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và đơn phương hủy hợp đồng là hai hành vi pháp lý khác nhau, bị đơn không đơn phương hủy hợp đồng, nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại nên không đồng ý yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn.

Tòa: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 404 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình, tại thời điểm xác lập hợp đồng”.

Xét thấy hai Hợp đồng kinh tế được thể bằng cả Tiếng Việt và Tiếng Anh, phần tiếng Anh thể hiện từ “hủy hợp đồng” và từ “chấm dứt hợp đồng” đều là từ “terminate”. Theo từ điển thì từ “terminate” có nghĩa là “chấm dứt”, “kết thúc”...; và theo nội dung thỏa thuận tại Điều V nói trên thì cụm từ “giá trị số lượng còn lại” tức là xác định có phần số lượng đã thực hiện và một phần số lượng còn lại, và hợp đồng nếu đã thực hiện một phần sau đó không tiếp tục thực hiện phần còn lại là trường hợp chấm dứt mà không phải là hủy hợp đồng. Trên thực tế, các bên đã thực hiện một phần của hợp đồng, đã giao nhận và thanh toán cho nhau giá trị 1.751,78 tấn ván lạng và 191,461 tấn mùn cưa theo thỏa thuận, sau đó mới phát sinh việc gửi thông báo chấm dứt hợp đồng.

Như vậy, từ này trong hai hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các bên được hiểu là “chấm dứt” là phù hợp. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về vấn đề này là có cơ sở chấp nhận.

Do đó, có căn cứ xác định tại thời điểm xác lập hợp đồng, quy định về “giá trị số lượng còn lại” thể hiện ý chí của các về trách nhiệm khi đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thực hiện trách nhiệm bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên nguyên đơn không có trách nhiệm phải chứng minh thiệt hại theo ý kiến của bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán giá trị của số lượng hàng còn lại chưa thực hiện là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 401 Bộ luật dân sự 2015.

17/08/2026

BLT chia sẻ điều khoản Phạt vi phạm về chất lượng công trình:

Điều 8: Yêu cầu về chất lượng sản phẩm và nghiệm thu, bàn giao sản phẩm Hợp đồng nhà thầu

8.1.Các loại vật tư không đạt yêu cầu thì tuyệt đối không được đưa vào công trường.

8.2. Bên A có quyền kiểm soát kho công trường của Bên B hoặc thầu phụ của Bên B mà không cần báo trước, nếu phát hiện Bên B hoặc thầu phụ của Bên B tồn trữ vật tư, thiết bị kém phẩm chất, Bên A có quyền:

(i) lập biên bản, yêu cầu Bên B giải trình;

(ii) yêu cầu Bên B tháo dỡ ngay lập tức toàn bộ phần công việc sử dụng vật tư kém chất lượng và thay thế bằng vật tư đúng quy định trong thời hạn do Bên A ấn định và Bên B phải chịu toàn bộ chi phí tháo dỡ, vận chuyển, thay thế vật tư, thi công lại và mọi thiệt hại phát sinh (bao gồm chậm tiến độ, chi phí kiểm tra lại, thiệt hại cho các hạng mục khác);

(iii) Phạt vi phạm bằng 20% giá trị vật tư/hạng mục sử dụng vật tư kém chất lượng (tính theo đơn giá hợp đồng). Nếu vi phạm tái diễn, Bên A có quyền tạm ngừng hoặc chấm dứt Hợp đồng.

Ngày 16/8/2026, BLT khai giảng Khóa 48 chuyên sâu về Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư! Cảm ơn các bạn học viên đã đăng k...
17/08/2026

Ngày 16/8/2026, BLT khai giảng Khóa 48 chuyên sâu về Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư! Cảm ơn các bạn học viên đã đăng ký tham dự và phát biểu thảo luận rất sôi nổi!

Khóa học không chỉ dừng lại ở việc phân tích chuyên sâu về lý luận và pháp lý, mà còn cung cấp rất nhiều tình huống thực tiễn đa dạng trong nhiều lĩnh vực, vấn đề khác nhau để phân tích, bình luận và rút ra các bài học kinh nghiệm, nhằm trang bị cho các bạn học viên kiến thức và kỹ năng để có thể chủ động tư vấn xử lý các vấn đề pháp lý có liên quan về doanh nghiệp và đầu tư một cách chủ động, tự tin, đúng pháp luật và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

15/08/2026

TÌNH HUỐNG: TRANH CHẤP VỀ TÊN DOANH NGHIỆP VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

[Bản án số: 319/2023/HC-PT Ngày: 11/9/2023 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp”]

Xét kháng cáo của Công ty cổ phần V, Hội đồng xét xử thấy: [2.1] Xét tính hợp pháp của Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h: Công ty Cổ phần V được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 08/10/2005, đăng ký thay đổi lần thứ sáu ngày 21/6/2019 với tên Công ty viết bằng tiếng Việt là: CÔNG TY CỔ PHẦN V, có địa chỉ trụ sở chính tại: C N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Tại Giấy phép số 0401930330 ngày 12/10/2018, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; tên công ty viết tắt là CÔNG TY TNHH V; địa chỉ trụ sở chính tại: B T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng;

Tại Giấy phép số 0402049326 ngày 30/06/2020, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; địa chỉ trụ sở chính tại: H L, phường K, quận N, thành phố Đà Nẵng;

Tại Giấy phép số 0402133641 ngày 26/01/2022, Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho CÔNG TY TNHH V; tên Công ty viết tắt bằng tiếng nước ngoài là 24H THUAN THANH TRANSPORT COMPANY LIMITED; tên viết tắt là: 24H THUAN THANH TRANSPORT CO., LTD; địa chỉ trụ sở chính tại 1 L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Theo quy định tại Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2014, và Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì tên doanh nghiệp bao gồm hai thành tố, đó là loại hình doanh nghiệp và tên riêng. Do đó, để có đủ căn cứ xác định tên doanh nghiệp trùng và gây nhầm lẫn thì tên doanh nghiệp đó phải giống nhau cả về loại hình doanh nghiệp và tên riêng.

Do các Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V đăng ký lần đầu ngày 12/10/2018; Công ty TNHH V 24h đăng ký lần đầu ngày 30/6/2020 nên áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2014 để giải quyết; đối với Công ty TNHH V 24h đăng ký lần đầu ngày 26/01/2022 nên áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2020 giải quyết.

Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2014, và Điều 41 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tên doanh nghiệp bị coi là trùng và gây nhầm lẫn, cụ thể như sau: “1. Tên trùng là tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được viết hoàn toàn giống với tên tiếng Việt của doanh nghiệp đã đăng ký. 2. Các trường hợp được coi là tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký bao gồm: a) Tên tiếng Việt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký được đọc giống tên doanh nghiệp đã đăng ký; b) Tên viết tắt của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên viết tắt của doanh nghiệp đã đăng ký; c) Tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đề nghị đăng ký trùng với tên bằng tiếng nước ngoài của doanh nghiệp đã đăng ký; d) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một số tự nhiên, một số thứ tự hoặc một chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, chữ F, J, Z, W được viết liền hoặc cách ngay sau tên riêng của doanh nghiệp đó; đ) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một ký hiệu “&” hoặc “và”, “.”, “,”, “+”, “-”, “_”; e) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi từ “tân” ngay trước hoặc từ “mới” được viết liền hoặc cách ngay sau hoặc trước tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký; g) Tên riêng của doanh nghiệp đề nghị đăng ký chỉ khác với tên riêng của doanh nghiệp cùng loại đã đăng ký bởi một cụm từ “miền Bắc”, “miền N”, “miền T4”, “miền T5”, “miền Đ”; h) Tên riêng của doanh nghiệp trùng với tên riêng của doanh nghiệp đã đăng ký. 3. Các trường hợp quy định tại các điểm d, đ, e, g và h khoản 2 Điều này không áp dụng đối với công ty con của công ty đã đăng ký”.

Theo các quy định nêu trên, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h được Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp không trùng loại hình doanh nghiệp và tên riêng, cũng không gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp mà Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ đã cấp cho Công ty Cổ phần V. Việc Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại các Điều 26, 27, 28 và Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và phù hợp với quy định tại Điều 4 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04/1/2021 của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp. Do đó, Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty CP V về việc tuyên hủy các Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Đ cấp cho Công ty TNHH V, Công ty TNHH V 24h và Công ty TNHH V 24h là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.

TÌNH HUỐNG: TÊN DN VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
[Bản án số: 04/2021/KDTM-ST Ngày 10-5-2021 của TAND tỉnh Bình Dương V/v tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ]
[2] Nguyên đơn đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 23/11/2007 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Mã số doanh nghiệp 0303104343) do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp với tên gọi Công ty TNHH Dịch vụ Xây dựng Địa ốc ĐX. Nguyên đơn đăng ký thay đổi lần 21 ngày 02/4/2019 với tên gọi hiện nay là Công ty Cổ phần TĐ ĐX. Nghành nghề kinh doanh chính (Mã số 6810) là: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Bị đơn đăng ký tên doanh nghiệp tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (Mã số doanh nghiệp 3702745760) đăng ký lần đầu ngày 28/02/2019, tên gọi là “CÔNG TY TNHH ĐTPTĐO ĐX”. Nghành nghề kinh doanh của bị đơn theo Công văn số 403/ĐKKD ngày 13/4/2021 của Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương đề nghị Tòa án truy cập website: dangkykinhdoanh.gov.vn. Theo kết quả tra cứu website: dangkykinhdoanh.gov.vn thể hiện bị đơn cũng đăng ký ngành nghề kinh doanh chính (Mã số 6810) là: Kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu, chủ sử dụng hoặc đi thuê.
Như vậy, nguyên đơn và bị đơn là các chủ thể kinh doanh trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề chính là kinh doanh bất động sản. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguyên đơn đã dùng tên thương mại, nhãn hiệu “ĐX” trong hoạt động kinh doanh trước khi bị đơn được thành lập và đăng ký kinh doanh năm 2019.
[3] Nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ các nhãn hiệu như sau:
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 120848 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp cho Công ty TNHH Dịch vụ Xây dựng Địa ốc ĐX (tên cũ của nguyên đơn) theo Quyết định số 4447/QĐ-SHTT ngày 05/3/2009 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 14/9/2007, ngành nghề đăng ký bảo hộ là mua bán nhà, môi giới bất động sản, cho thuê nhà ở, văn phòng và xưởng sản xuất...
+ “DX GROUP” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 252282 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 61477/QĐ- SHTT ngày 02/10/2015 cho Công ty Cổ phần DV & XD ĐO ĐX có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 26/9/2013, ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 346564 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 17771/QĐ-SHTT ngày 05/03/2020 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 03/10/2018, ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
+ “ĐX” theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 3465645 do Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo Quyết định số 17772/QĐ-SHTT ngày 05/03/2020 có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm tính từ ngày nộp đơn (có thể gia hạn). Nguyên đơn nộp đơn đăng ký ngày 03/10/2018, Ngành nghề đăng ký trong đó có dịch vụ đại lý bất động sản, môi giới bất động sản...
Theo Biên bản xác minh ngày 24/3/2021 thể hiện bị đơn đang treo biển hiệu của công ty ghi tên: “CÔNG TY TNHH ĐTPTĐO ĐX” và ghi rõ “MST 3702745760” hoàn toàn trùng khớp với mã số doanh nghiệp mà công ty đã đăng ký kinh doanh nêu trên (theo như phân tích tại mục [2]). Vì vậy, nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nhãn hiệu mà nguyên đơn đã đăng ký bảo hộ là có cơ sở.
[3] Theo khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.
Nguyên đơn đã đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ theo quy định. Theo khoản 1, 2 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ như sau: “1. Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; 2. Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác.”. Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại: “a) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó; b) Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ;”. Bị đơn hoạt động kinh doanh cùng ngành nghề nhưng sử dụng cụm từ “ĐX”, “ĐX” để đăng ký cấu thành tên doanh nghiệp là trùng với nhãn hiệu mà nguyên đơn đã đăng ký và trong thời gian bảo hộ nên đã xâm phạm quyền của nguyên đơn theo các quy định trên.
[4] Theo Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng các biện pháp sau đây để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình: “b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; d) Khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” Theo Biên bản xác minh ngày 05/8/2020 tại Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương cung cấp thông tin: Công ty Cổ phần TĐ ĐX có đơn khiếu nại Công ty TNHH ĐTPTĐO ĐX tại đơn vị nhưng nếu doanh nghiệp vi phạm không còn hoạt động thực tế, không còn sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ thì sẽ trả lại đơn, không xử lý được. Nguyên đơn đã thực hiện quyền khiếu nại tại Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương nhưng không được giải quyết. Vì vậy, việc nguyên đơn lựa chọn khởi kiện bị đơn tại Tòa án là phù hợp quy định.
Tại khoản 1, 2 Điều 19 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về Đăng ký doanh nghiệp quy định về xử lý đối với trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp như sau: “1. Không được sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý của tổ chức, cá nhân đã được bảo hộ để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp được sự chấp thuận của chủ sở hữu tên thương mại, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đó...” và “Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu đặt tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Trường hợp tên doanh nghiệp xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp thì doanh nghiệp có tên vi phạm phải đăng ký đổi tên.”. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu “ĐX” để đăng ký tên doanh nghiệp, buộc xin lỗi cải chính công khai 03 lần liên tiếp trên Báo Công lý là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, để đảm bảo cho việc thi hành bản án cần thiết phải kiến nghị Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương buộc bị đơn phải thay đổi tên gọi cho phù hợp để không xâm phạm đến quyền đã được bảo hộ của nguyên đơn.

15/08/2026

TÌNH HUỐNG: TÒA XÁC ĐỊNH DÙ CỔ PHẦN BỊ KÊ BIÊN, PHONG TỎA VẪN KHÔNG LÀM THAY ĐỔI TƯ CÁCH CỔ ĐÔNG

[QUYẾT ĐỊNH PHÚC THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Số: 61/2019/QĐPT-KDTM ngày 14 tháng 6 năm 2019]

Theo Luật Doanh nghiệp, tư cách cổ đông được xác lập dựa trên căn cứ sở hữu cổ phần. Cá nhân, tổ chức sở hữu cổ phần đều là cổ đông của Công ty cổ phần và đương nhiên có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cổ đông. Tại thời điểm ngày 08/8/2018, Công ty OGC gửi Thư mời họp ĐHĐCĐ ngày 15/8/2018, DNTN HB vẫn đang sở hữu hợp pháp 68.779.140 cổ phần chiếm 28,3% cổ phần có quyền biểu quyết của Công ty OGC. Mặc dù 68.779.140 cổ phần đã bị kê biên, phong tỏa nhưng không làm thay đổi quyền sở hữu của DNTN HB.

DNTN HB chưa có giao dịch hợp đồng và giao dịch bán cổ phần trên thị trường chứng khoán, Cơ quan thi hành án không phải người mua cổ phần Công ty OGC của DNTN HB và cổ phần này cũng chưa được xử lý chuyển nhượng cho bất kỳ ai theo một trong các hình thức trên, chưa có một thủ tục thay đổi nào theo quy định của pháp luật về cổ đông sở hữu số cổ phần trên. DNTN HB vẫn đang là cổ đông sở hữu họp pháp số cổ phần bị kê biên, quyền sở hữu của DNTN HB chưa bị chấm dứt theo quy định của pháp luật.

Do đó, DNTN HB có đầy đủ tư cách tham dự, biểu quyết, ứng cử, đề nghị tại bất kỳ ĐHĐCĐ nào của Công ty OGC. Việc DNTN HB không được tham gia họp ĐHĐCĐ, không được quyền có ý kiến, ứng cử, biểu quyết về những nội dung họp tại cuộc họp ĐHĐCĐ là trái quy định theo Điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp.

Do vậy, chủ DNTN HB là ông HVT ủy quyền cho bà Nguyễn Thanh H làm đại diện ủy quyền, đứng tư cách đại diện cho cổ đông DNTN HB làm đơn yêu cầu Tòa án hủy 14 bỏ toàn bộ Nghị quyết ĐHĐCĐ 2018 là đúng quy định của pháp luật dân sự về quyền tài sản và quy định của Luật Doanh nghiệp.

Address

TP. HCM
Hcm

Telephone

+84906112959

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Công ty Luật TNHH BLT Lawyers posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Công ty Luật TNHH BLT Lawyers:

Shortcuts

Share

Category