Luật sư Tư vấn Ly hôn

Luật sư Tư vấn Ly hôn Muốn liên hệ Luật sư Hùng:
Điện thoại/ Zalo: 0902.199.090
Địa chỉ: Toà nhà Hope Residences, đường Chu Huy Mân, quận long biên, Hà Nội
(7)

24/08/2026
rước khi lập gia đình, ông K có tích lũy được một số tiền và hùn vốn kinh doanh chung với một người bạn và hiện thu về k...
23/08/2026

rước khi lập gia đình, ông K có tích lũy được một số tiền và hùn vốn kinh doanh chung với một người bạn và hiện thu về khoản lợi nhuận mỗi tháng. Dự định sang năm sẽ kết hôn, ông K băn khoăn muốn biết sau khi kết hôn, ông có được quyền tiếp tục giữ số vốn kinh doanh này làm tài sản riêng hay không?
Trả lời
Căn cứ Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng; đồng thời, tài sản được hình thành từ tài sản riêng cũng tiếp tục là tài sản riêng của người đó. Việc ông K đã dùng tiền tích lũy trước hôn nhân vào việc góp vốn kinh doanh không làm thay đổi bản chất pháp lý của khối tài sản này. Do đó, toàn bộ phần vốn góp vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của một mình ông K.
Tuy nhiên, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa khoản "vốn gốc" và "lợi nhuận phát sinh" trong thời kỳ hôn nhân. Đối với khoản lợi nhuận mỗi tháng phát sinh từ hoạt động kinh doanh thu được sau khi đã đăng ký kết hôn, căn cứ khoản 1 Điều 33 và Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, đây được coi là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân và mặc nhiên sẽ thuộc về khối tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận chia tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc có thỏa thuận khác bằng văn bản).
Về quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng, căn cứ Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, ông K có toàn quyền tự mình quyết định đối với phần vốn góp mà không bắt buộc phải có sự đồng ý của người vợ. Ông K có quyền tự do lựa chọn nhập hoặc không nhập khoản tài sản riêng này vào khối tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ đặt ra duy nhất một ngoại lệ hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng: trong trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của toàn thể gia đình thì việc chuyển nhượng, định đoạt tài sản riêng bắt buộc phải có sự đồng ý của người vợ. Trường hợp gia đình vẫn có các nguồn thu nhập khác, ông K hoàn toàn chủ động nắm giữ và quản lý số vốn kinh doanh của mình theo đúng ý chí cá nhân.
----------------
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ KẾT NỐI
☎️ Hotline/zalo :0902.199.090
🏠 Địa chỉ liên hệ: P 11-14, H5, Hope Residences, đường Chu Huy Mân, phường Phúc Lợi, Hà Nội (Quận Long Biên cũ)
, **o

Gia đình bà A có ba anh chị em. Sau khi bố mẹ qua đời có để lại một thửa đất, người em gái là bà B (vốn mắc bệnh tâm thầ...
22/08/2026

Gia đình bà A có ba anh chị em. Sau khi bố mẹ qua đời có để lại một thửa đất, người em gái là bà B (vốn mắc bệnh tâm thần) do một tay bà A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi bàn về việc chia thừa kế di sản của cha mẹ, người anh cả là ông C không đồng ý việc chia đất cho bà B với lý do em gái bị bệnh tâm thần, không có năng lực hành vi và không thể tự mình quản lý tài sản. Việc ông C từ chối chia thừa kế cho em gái bị bệnh tâm thần có đúng hay không?
Trả lời
Căn cứ Điều 610 Bộ luật Dân sự 2015, mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ, bất kể tình trạng sức khỏe hay năng lực hành vi. Dù là người mất năng lực hành vi dân sự thì bà B vẫn có đầy đủ quyền thừa kế bình đẳng như ông C và bà A. Quy định này thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho những người yếu thế trong xã hội.
Để bảo vệ tốt nhất quyền lợi thừa kế của em gái, bà A cần chủ động thực hiện các thủ tục pháp lý theo đúng quy định. Trước hết, bà A cần gửi đơn yêu cầu Tòa án làm thủ tục trưng cầu giám định tâm thần và ra quyết định tuyên bố bà B là người mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời công nhận bà A là người giám hộ hợp pháp của em gái. Sau khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, với tư cách là người giám hộ chính thức, bà A hoàn toàn có đầy đủ quyền hạn pháp lý để đại diện cho bà B đứng ra kê khai, yêu cầu phân chia di sản thừa kế hoặc nộp đơn khởi kiện ra Tòa án để đòi lại phần tài sản mà cha mẹ để lại cho em gái.
Ngay cả trong trường hợp bố mẹ trước khi mất có lập di chúc để lại toàn bộ thửa đất cho một mình ông C, quyền lợi của bà B vẫn được pháp luật bảo vệ. Căn cứ quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Bộ luật Dân sự, người con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động (như trường hợp bà B bị bệnh tâm thần) vẫn đương nhiên được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật. Như vậy, dù chia theo pháp luật hay chia theo di chúc, bà B chắc chắn vẫn có một phần tài sản và ông C không thể tước đoạt.
----------------
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ KẾT NỐI
☎️ Hotline/zalo :0902.199.090
🏠 Địa chỉ liên hệ: P 11-14, H5, Hope Residences, đường Chu Huy Mân, phường Phúc Lợi, Hà Nội (Quận Long Biên cũ)
, **o

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà H có mua được một căn nhà. Sau đó, ông V (chồng bà H) đã tự mình đứng ra ký hợp đồng...
21/08/2026

Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà H có mua được một căn nhà. Sau đó, ông V (chồng bà H) đã tự mình đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng căn nhà này cho ông Y. Gần đây, khi hai vợ chồng ly hôn, bà H phát hiện sự việc và khởi kiện ra Tòa án yêu cầu tuyên hợp đồng bán nhà vô hiệu với lý do đây là tài sản chung của vợ chồng nhưng việc chuyển nhượng hoàn toàn không có sự đồng ý hay chữ ký của bà. Yêu cầu đòi lại nhà của bà có được Tòa án chấp nhận hay không?
Trả lời
Việc tự ý bán tài sản chung của vợ chồng khi chưa có sự đồng ý của người còn lại là vi phạm nguyên tắc quản lý tài sản hôn nhân nhưng không đồng nghĩa với việc bà H chắc chắn sẽ đòi lại được căn nhà. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình và đặc biệt là Án lệ số 04/2016/AL của Tòa án nhân dân tối cao, pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba giao dịch dịch trung thực, công khai dựa trên bản chất thực tế của quá trình chuyển nhượng.
Tòa án sẽ xem xét toàn diện các chứng cứ thực tế để xác định giao dịch đó có được coi là sự chấp thuận ngầm của bà H hay không. Cụ thể, nếu ông Y (bên mua) chứng minh được các căn cứ gồm: vợ chồng bà H đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng; dù bà H không ký tên trên hợp đồng nhưng biết rõ việc bán nhà và cùng sử dụng số tiền đó vào mục đích gia đình; ông Y đã nhận nhà, quản lý và sử dụng công khai trong thời gian dài mà bà H không hề có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì thì Tòa án sẽ xác định bà H đã mặc nhiên đồng ý với việc chuyển nhượng. Khi đó, hợp đồng bán nhà cho ông Y vẫn được công nhận hiệu lực pháp lý và yêu cầu đòi nhà của bà H sẽ bị Tòa án bác bỏ.
Trường hợp ngược lại, nếu bà H chứng minh được mình hoàn toàn không hề hay biết về giao dịch, không được hưởng thụ hay sử dụng bất kỳ khoản tiền bán nhà nào từ ông V và đã lập tức phản đối ngay khi phát hiện ra sự việc, Tòa án mới có căn cứ tuyên hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu. Đây là bài học pháp lý rất lớn trong giao dịch bất động sản. Để tránh rủi ro phát sinh tranh chấp sau này, người mua tài sản chung của vợ chồng bắt buộc phải yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ký tên vào hợp đồng hoặc phải có văn bản ủy quyền, cam kết chấp thuận chuyển nhượng được công chứng hợp pháp từ người không đứng tên.
----------------
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ KẾT NỐI
☎️ Hotline/zalo :0902.199.090
🏠 Địa chỉ liên hệ: P 11-14, H5, Hope Residences, đường Chu Huy Mân, phường Phúc Lợi, Hà Nội (Quận Long Biên cũ)
, **o

Ông P và bà Q là vợ chồng đang làm thủ tục ly hôn. Trong thời kỳ hôn nhân, bà S (mẹ đẻ của ông P) có làm thủ tục sang tê...
20/08/2026

Ông P và bà Q là vợ chồng đang làm thủ tục ly hôn. Trong thời kỳ hôn nhân, bà S (mẹ đẻ của ông P) có làm thủ tục sang tên một căn nhà cho ông. Hiện nay khi ra Tòa, ông P khẳng định căn nhà này là tài sản riêng của một mình ông do mẹ đẻ cho, nên ông không có nghĩa vụ phải phân chia cho bà Q. Việc ông P tự ý cho rằng căn nhà là tài sản riêng có đúng pháp luật hay không và ngôi nhà này sẽ được phân chia như thế nào khi ly hôn?
Trả lời
Lập luận của ông P chưa hoàn toàn chính xác vì việc xác định nhà đất là tài sản chung hay tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân phải căn cứ vào nguồn gốc hình thành thực tế và văn bản pháp lý kèm theo. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản riêng của vợ hoặc chồng bao gồm tài sản mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó, căn nhà này chỉ được coi là tài sản riêng của ông P nếu ông cung cấp được Hợp đồng tặng cho quyền sở hữu nhà ở có công chứng với nội dung thể hiện rõ ràng bà S chỉ tặng cho riêng một mình ông P.
Ngược lại, căn cứ theo Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, nếu hợp đồng tặng cho từ bà S ghi nhận tặng cho chung cả hai vợ chồng, hoặc trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cập nhật tên của cả ông P và bà Q thì căn nhà mặc nhiên là tài sản chung của vợ chồng. Khi ly hôn, khối tài sản chung này sẽ được phân chia dựa trên sự thỏa thuận của các bên; trường hợp không thỏa thuận được, Tòa án sẽ giải quyết phân chia căn cứ vào công sức đóng góp, tạo lập và quản lý tài sản của từng người.
Bên cạnh đó, căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, ngay cả trong trường hợp căn nhà ban đầu được xác định là tài sản riêng của ông P, bà Q vẫn có quyền đòi lại quyền lợi. Nếu trong quá trình chung sống, hai vợ chồng đã có thỏa thuận nhập căn nhà đó vào khối tài sản chung hoặc bà Q đã đóng góp tiền bạc, công sức để sửa chữa, cải tạo, xây dựng thêm làm gia tăng giá trị căn nhà thì bà Q hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án buộc ông P phải thanh toán lại phần giá trị mà bà đã trực tiếp đóng góp.
----------------
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ KẾT NỐI
☎️ Hotline/zalo :0902.199.090
🏠 Địa chỉ liên hệ: P 11-14, H5, Hope Residences, đường Chu Huy Mân, phường Phúc Lợi, Hà Nội (Quận Long Biên cũ)
, **o

Address

Hanoi

Telephone

0902199090

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật sư Tư vấn Ly hôn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật sư Tư vấn Ly hôn:

Shortcuts

Share