Luật Sư Đoàn Gia

Luật Sư Đoàn Gia Công ty CP Tư Vấn Nguyên Hà tư vấn doanh nghiệp, xin các loại giấy phép Quận Đống Đa, Hà Nội
ĐT: 093.223.0078 – 04.8585.8689

Tư vấn doanh nghiệp, xin các loại giấy phép

CÔNG TY CP TƯ VẤN NGUYÊN HÀ
Địa chi: Số 1 Ngõ 49/28 Huỳnh Thúc Kháng.

21/08/2013

Thời gian này khá bận, ít vào face hơn, nên cả nhà có câu hỏi gì thì cứ inboxx có thời gian mình sẽ trả lời ngay nhé, Sẽ không từ chối bất kỳ câu hỏi nào của mọi người. Cảm ơn mọi người đã tin tưởng

06/08/2013

Luật doanh nghiệp còn quá nhiều kẽ hở!

24/07/2013

Luật sư là một nghề, nhưng gắn liền với cái tâm...Vì thế, luật sư đâu chỉ lao động vì tiền, mà quan trọng hơn cả là lao động vì công lý! Nếu giúp được ai, nhất định sẽ giúp!

05/06/2013

Khởi động không khí chào mừng ngày mới!

17/05/2013

Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, trong bài viết này Luật Minh Gia nêu quy định pháp luật và các phân tích liên quan đến vấn đề cầm cố tài sản, cụ thể như sau:
Hình thức cầm cố tài sản: Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính.

Hiệu lực của cầm cố tài sản: Cầm cố tài sản có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố.

Thời hạn cầm cố tài sản: Thời hạn cầm cố tài sản do các bên thoả thuận. Trong trường hợp không có thoả thuận thì thời hạn cầm cố được tính cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố.

Nghĩa vụ của bên cầm cố tài sản
Bên cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

+ Giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố theo đúng thoả thuận;

+ Báo cho bên nhận cầm cố về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố, nếu có; trong trường hợp không thông báo thì bên nhận cầm cố có quyền huỷ hợp đồng cầm cố tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố;

+ Thanh toán cho bên nhận cầm cố chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Quyền của bên cầm cố tài sản
Bên cầm cố tài sản có các quyền sau đây:

+ Yêu cầu bên nhận cầm cố đình chỉ việc sử dụng tài sản cầm cố trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 333 củaBộ luật Dân sự 2005, nếu do sử dụng mà tài sản cầm cố có nguy cơ bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;

+ Được bán tài sản cầm cố, nếu được bên nhận cầm cố đồng ý;

+ Được thay thế tài sản cầm cố bằng một tài sản khác nếu có thỏa thuận;

+ Yêu cầu bên nhận cầm cố giữ tài sản cầm cố trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt;

+ Yêu cầu bên nhận cầm cố bồi thường thiệt hại xảy ra đối với tài sản cầm cố.

Nghĩa vụ của bên nhận cầm cố tài sản

Bên nhận cầm cố tài sản có các nghĩa vụ sau đây:

+ Bảo quản, giữ gìn tài sản cầm cố; nếu làm mất hoặc hư hỏng tài sản cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố;

+ Không được bán, trao đổi, tặng cho, cho thuê, cho mượn tài sản cầm cố; không được đem tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác;

+ Không được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu không được bên cầm cố đồng ý;

+ Trả lại tài sản cầm cố khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

Quyền của bên nhận cầm cố tài sản

Bên nhận cầm cố tài sản có các quyền sau đây:

+ Yêu cầu người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật tài sản cầm cố trả lại tài sản đó;

+ Yêu cầu xử lý tài sản cầm cố theo phương thức đã thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ;

+ Được khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố, nếu có thoả thuận;

+ Được thanh toán chi phí hợp lý bảo quản tài sản cầm cố khi trả lại tài sản cho bên cầm cố.

Cầm cố nhiều tài sản

Trong trường hợp cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ dân sự thì mỗi tài sản được xác định bảo đảm thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận mỗi tài sản bảo đảm thực hiện một phần nghĩa vụ.

Huỷ bỏ việc cầm cố tài sản

Việc cầm cố tài sản có thể bị huỷ bỏ, nếu được bên nhận cầm cố đồng ý.

Xử lý tài sản cầm cố

Trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng thoả thuận thì tài sản cầm cố được xử lý theo phương thức do các bên đã thoả thuận hoặc được bán đấu giá theo quy định của pháp luật để thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản cầm cố.

Xử lý tài sản cầm cố trong trường hợp có nhiều tài sản cầm cố

Trong trường hợp tài sản được dùng để cầm cố có nhiều vật thì bên nhận cầm cố được chọn tài sản cụ thể để xử lý, trừ trường hợp có thoả thuận khác. Bên nhận cầm cố chỉ được xử lý số tài sản cần thiết tương ứng với giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm; nếu xử lý quá số tài sản cần thiết và gây ra thiệt hại cho bên cầm cố thì phải bồi thường thiệt hại cho bên cầm cố.

Thanh toán tiền bán tài sản cầm cố

Tiền bán tài sản cầm cố được sử dụng để thanh toán nghĩa vụ cho bên nhận cầm cố sau khi trừ chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cần thiết khác có liên quan để xử lý tài sản cầm cố; trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm là khoản vay thì thanh toán cho bên nhận cầm cố theo thứ tự nợ gốc, lãi, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại nếu có; nếu tiền bán còn thừa thì phải trả lại cho bên cầm cố; nếu tiền bán còn thiếu thì bên cầm cố phải trả tiếp phần còn thiếu đó.

Chấm dứt cầm cố tài sản

Việc cầm cố tài sản chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

+ Nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố chấm dứt;

+ Việc cầm cố tài sản được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

+ Tài sản cầm cố đã được xử lý;

+ Theo thoả thuận của các bên.

Trả lại tài sản cầm cố

Khi việc cầm cố tài sản chấm dứt theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 339 của Bộ luật Dân sự 2005 thì tài sản cầm cố, giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu được trả lại cho bên cầm cố. Hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản cầm cố cũng được trả lại cho bên cầm cố, nếu không có thoả thuận khác.

Như vậy, việc cầm cố tài sản thường được đặt ra bên cạnh một hợp đồng dân sự nhưng cũng có thể được đặt bên cạnh một nghĩa vụ ngoài hợp đồng. Trong mọi trường hợp, cầm cố tài sản đều là sự thỏa thuận từ các bên về tài sản và nghĩa vụ của các bên, bên có nghĩa vụ phải giao cho bên có quyền một tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ dân sự.

16/05/2013

Hỏi: Di sản thừa kế là tài sản chung của vợ chồng, một người chết trước đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế. Xác định phần di sản đã hết thời hiệu thừa kế như thế nào?
Trả lời
Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Trả lời: Trong vụ án chia thừa kế thông thường (không có phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện) thì để chia thừa kế, bước đầu tiên vẫn phải là xác định di sản. Di sản thường không phải là toàn bộ khối tài sản có tranh chấp. Ví du: Ông A và bà B có khối tài sản chung là nhà ở trên diện tích đất là 1200m2. Ông bà có 2 con chung là anh X và chị Y. Năm 2005, ông A chết, bà B vẫn ở nhà đất trên với anh X. Năm 2010, chị Y khởi kiện yêu cầu được chia thừa kế của ông A. Như vậy, khối tài sản có tranh chấp là nhà ở trên diện tích 1200m2 đất. Thực tế, trong 1200m2 đất đang sử dụng có 200m2 thuộc quy hoạch mở đường, chỉ có 1000m2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng. Do đó, chỉ có nhà trên diện tích 1000m2 được định giá là 3 tỷ đồng. Chia tài sản chung giữa ông A và bà B, xác định được di sản của ông A là 1,5 tỷ đồng. Những người được thừa kế của ông A là bà B, anh X, chị Y nên mỗi kỷ phần thừa kế là 500 triệu đồng. Sau khi đã xác định được giá trị của kỷ phần Tòa án mới chia hiện vật. Tòa án có thể chia cho chị Y một diện tích hợp lý trong phạm vi 1000m2 tương ứng với giá trị 500 triệu đồng. Giả sử ông A đã chết từ năm 1995, bà B chết năm 2005 thì vụ án thuộc loại có phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện.
Trong trường hợp này, khác với vụ án thừa kế thông thường nêu trên, việc xác định di sản chính là xác định phần di sản còn thời hiệu khởi kiện. Xác định phần di sản còn thời hiệu khởi kiện cũng tương tự như việc xác định di sản là bóc tách ra những phần tài sản không thuộc diện chia thừa kế; và cũng chỉ là bóc tách về mặt giá trị, sau khi đã xác định được kỷ phần thừa kế mỗi người được chia thì mới chia hiên vật tương ứng với kỷ phần.
Như vậy, phần di sản còn thời hiệu khởi kiện chỉ là phần di sản của bà B là 1,5 tỷ đồng (một nửa khối tài sản chung của bà B và ông A), có 2 thừa kế của bà B nên mỗi kỷ phần là 750 triệu đồng. Chị Y có quyền được chia hiện vật tương ứng với 750 triệu đồng. Có một câu hỏi đã được đặt ra là phần di sản hết thời hiệu thuộc về ai? Tòa án có quyết định về phần di sản hết thời hiệu không? Đây là vấn đề pháp luật chưa có quy định cụ thể. Thông thường thì phần di sản hết thời hiệu vẫn tiếp tục do bị đơn quản lý. Tuy nhiên, về nguyên tắc, đã là phần không còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án không được giải quyết nên không được quyết định về phần này.

15/05/2013

Xin cấp GCNQSD đất đã sử dụng ổn định lâu dài từ năm 1986
Năm 1986 Chú tôi được HTX và UBND xã cấp cho một miếng đất để ở, chỉ là cắm mốc giao đất mà không có giấy tờ gì.
Năm 2010 xã nơi chú tôi sinh sống tiến hành cấp GCNQSD đất cho các cá nhân và hộ gia đình ở xã chú tôi.
Các gia đình xung quanh nơi chú tôi sống đã được cấp đất, có hộ gia đình cũng được giao đất như chú tôi cũng đã được cấp GCNQSDĐ, còn chú tôi do trước đây có mâu thuẫn với Chủ tịch UBND xã nên bây giờ bị gây khó khăn, năm lần bảy lượt chú tôi gửi đơn xin cấp GCNQSD đất lên UBND xã mà đều bị từ chối với muôn vàn lý do.
Đất chú tôi ở hiện tại sử dụng ổn định và không có tranh chấp từ 1986 đến nay, đóng thuế và hoàn thành mọi nghĩa vụ với nhà nước. Mới đây khi chú tôi có làm gay gắt thì UBND đã phải ra một Thông Báo (v/v Hướng dẫn hoàn thiện thủ tục xin cấp GCNQSD đất ở) Trong đó yêu cầu chú tôi phải bổ sung hoàn thiện những giấy tờ sau
+ Cung cấp thêm các giấy tờ đất liên quan về nguồn gốc được cấp năm 1983 ( VD: Nghị quyết đại hội xã viên, giấy tờ liên quan cấp đất/ giao đất của HTX năm 1986, sơ đồ vản vẽ thể hiện diện tích thửa đất năm 1986 được cấp, phiếu thu tiền đất nếu có). (1)
+ Cá nhân, hộ gia đình ông Điều xin cấp GCNQSD đất nhưng phải thống nhất để chấp hành việc trừ diện tích lưu không, chỉ giới xây dựng đường 23B theo quy hoạch; trừ trả diện tích mương/ rãnh thoát nước phía sau nhà được thể hiện tại tờ bản đồ địa chính số 25 lập năm 1995. (2)
+ Cá nhân hộ gia đình ông Điều cung cấp them giấy cam kết khẳng định việc không còn có khiếu kiện, tranh chấp liên quan đến đất đai nhà ở của mình. (3)

Theo tôi tìm hiểu thì căn cứ vào Khoản 1, 4 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 thì với trường hợp của chú tôi sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993, và từ 1986 đến nay gia đình chú tôi sử dụng đất không hề có bất kỳ tranh chấp nào và đã được trưởng thôn xác nhận cùng với hàng xóm láng giềng xung quanh. Vậy chú tôi phải được cấp GCNQSDĐ.

Ở phần (2), sau nhà chú tôi có một cái mương, nhưng chú tôi không lấn chiếm, diện tích mương vẫn nguyên; còn việc trừ diện tích lưu không, chỉ giới xây dựng đường 23B theo quy hoạch chú tôi đã chấp hành.

Vậy xin Luật sư, các anh, chị và các bạn tư vấn giúp tôi trong trường hợp chú tôi thuộc diện được cấp GCNQSD đất mà bị gây khó khăn như vậy thì chú tôi phải làm những gì? Phải khiếu nại? Khiếu kiện ai, ở đâu?

Tôi xin chân thành cảm ơn! Và mong sớm nhận được sự tư vấn từ Luật sư!!!

Luật sư trả lời:
Chào bạn, nội dung bạn hỏi, tôi tư vấn như sau:
Như bạn trình bày, chú của bạn là người sử dụng đất hợp pháp, ổn đinh, lâu dài từ năm 1986 đến nay và không hề có tranh chấp gì. Điều 50 luật đất đai năm 2003 quy định: Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;
c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;
d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;
đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;
e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.
7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.
8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
b) Được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.
Như vậy, chú bạn có quyền lập hồ sơ và xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định. Nếu UBND xã không giải quyết, chú bạn có quyền khiếu nại việc không cấp giấy chứng nhận QSDĐ lên UBND cấp huyện hoặc khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án có thẩm quyền. Chào bạn
(St)

https://www.facebook.com/DoangiaLaw?ref=hl

Công ty CP Tư Vấn Nguyên Hà tư vấn doanh nghiệp, xin các loại giấy phép

10/05/2013

giải quyết nợ quá hạn

Các hóa đơn chưa được thanh toán làm giảm dòng tiền của các doanh nghiệp. Đặc biệt là với các doanh nghiệp nhỏ, việc theo dõi các hóa đơn này là một việc tốn nhiều chi phí và công sức.

Để thu lại tiền, nhiều công ty cầu viện đến các đại lý thu nợ. Các tổ chức này chuyên môn hóa trong việc thu các khoản nợ quá hạn.

Hầu hết các doanh nghiệp mang đến các đại lý thu nợ các khoản nợ quá hạn khoảng 8 tháng. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp thì đó là các khoản nợ quá 3 tháng.
Bài viết này sẽ cung cấp cho bạn những thực tế cần thiết để bạn thuê đại lý thu nợ cho việc kinh doanh của bạn. Các đề mục được liệt kê dưới đây có ích cho bạn và bạn có thể đọc chúng từ đầu đến cuối hay chuyển nhanh đến mục nào mà bạn quan tâm.

Các đại lý thu nợ hoạt động như nào?

Các đại lý thu nợ sẽ cố gắng thu nợ theo hai cách sau:

Bằng thư và điện thoại

Đối với các khoản nợ lớn, họ thường gửi thư và gọi điện đến các tài khoản nợ.

Chỉ dùng thư

Các khoản nợ nhỏ hơn sẽ không tương xứng với chi phí điện thoại, vì thế các đại lý thu nợ thường chỉ gửi các lá thư cảnh cáo.

Lựa chọn dịch vụ

Lựa chọn một dịch vụ thu nợ là việc khó khăn vì rất khó tiên đoán trước được khả năng thu nợ thành công. Có một vài lĩnh vực cần được xem xét quyết định khi chọn lựa dịch vụ thu nợ.

Phương thức thu hồi

Bạn cần xem xét các lá thư xem chúng được sử dụng ra sao và có hiệu quả với khách hàng của bạn không. Cũng nên hỏi về các nhân viên gọi điện thu nợ để đảm bảo rằng họ hiểu Đạo luật thực hành thu nợ công bằng.
Đạo luật ban hành năm 1977 này yêu cầu các nhân viên thu nợ phải đối xử với các con nợ một cách công bằng, chính đáng thông qua việc ngăn cấm một số hình thức thu nợ.

Dịch vụ này sẽ mang lại gì cho bạn

Hãy tìm hiểu:
• Các thông tin về tài khoản không trả đúng hạn sẽ được chuyển tới đại lý thu nợ như thế nào?
• Khi nào thì số tiền thu được sẽ được chuyển về cho bạn?
• Các báo cáo nào cung cấp thông tin về quá trình thu nợ và tỷ lệ thành công ?
• Làm thế nào bạn ngưng sử dụng dịch vụ thu nợ nếu như bạn nhận được thanh toán?

Họ xử lý các trường hợp mất liên lạc với con nợ ra sao

Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng khi thu nợ từ cá nhận. Khi các con nợ biến mất và không thể liên lạc trực tiếp được thì các đại lý thu nợ sẽ phải sử dụng khả năng tìm kiếm trực tuyến, danh bạ điện thoại để tìm ra con nợ.

Danh tiếng của đại lý

Hãy tham khảo các ý kiến từ các khách hàng có tình huống tương tụ và tìm hiểu xem liệu đại lý thu nợ có tuân thủ giấy phép và luật hợp đồng hay không.

Trước khi thuê một đại lý

Có nhiều hành động để bạn giảm bớt chi phí trước khi thuê một đại lý thu nợ.

Hãy cẩn thận khi cung cấp tín dụng

Hãy kiểm tra cẩn thận các khoản cho vay mới và đừng mở rộng tín dụng hơn khả năng kiểm soát của công ty.

Hãy giải thích các điều khoản giao dịch một cách rõ ràng

Khi mở rộng các khoản cho vay mới, hãy đảm bảo rằng bạn cho khách hàng biết bạn muốn nhận thanh toán vào lúc nào và làm rõ các chế tài phạt, thưởng cho việc trả muộn hay sớm.

Hãy theo sát các con nợ

Đừng mong chờ khách hàng sẽ tự báo cảnh sát thay vì đó hãy thường xuyên gửi các nhắc nhở và cảnh báo về ngày đến hạn.

Hãy xây dựng chuỗi các thông cáo quá hạn

Bạn nên thường xuyên nhắc nhở thông qua thư hoặc lời nói thậm chí ngay cả khi bạn cân nhắc sử dụng dịch vụ thu nợ. Điều này không tiết kiệm chi phí nhưng để tránh việc nản lòng khi sử dụng bên thứ ba để thu nợ.

Hãy đặt một thời hạn chính xác và bám chắc vào đó

Như là bước cuối cùng, hãy xác định một thời hạn chót. Đừng thay đổi thời hạn chót này và cảnh báo con nợ về ngày này.

Giá cả

Các đại lý thu nợ thường hoạt động trên cơ sở các sự kiện có khả năng xảy ra với xác xuất (thu được nợ hoặc không). Điều này có nghĩa là họ sẽ thu một phần trăm nhất định của giá trị thu nợ. Tùy theo giá trị khoản nợ, phần hoa hồng này sẽ từ 10% đến 50%. Một số đại lý khác có thể sẽ yêu cầu các khoản trả trước và tất nhiên họ sẽ giảm tỷ lệ phần trăm mà họ nhận trong trong khoản nợ thu hồi sau đó.

Một lợi ích của việc thanh toán theo cơ sở các khoản nợ thu hồi được đảm bảo rằng bạn sẽ không phải trả chi phí dịch vụ cho các khoản nợ không thu hồi được Tuy nhiên, đối với các khoản nợ nhỏ, có một số đại lý thu nợ không cung cấp dịch vụ theo hình thức trên. Trong trường hợp này bạn sẽ phải trả một khoản phí dịch vụ cố định cho thư tín và điện thoại.

Các lời khuyên khi sử dụng dịch vụ

Hãy cần thận và tỉ mỉ

Khi ủy quyền cho một bên thứ ba thu nợ cho bạn, hãy cung cấp cho họ mọi thông tin bạn có về con nợ, bao gồm các khoản mục và các thông tin liên lạc (địa chỉ liên lạc cho công việc và địa chỉ cá nhân) giữa bạn và con nợ.
Hãy đảm bảo rằng đại lý bạn thuê đã được cấp giấy phép hoạt động

Một số bang yêu cầu các đại lý thu nợ phải được cấp phép trước khi họ tiếp cận với con nợ. Hãy liên lạc với Hiệp Hội Thu Hồi nợ của Mỹ (Contact the American Collectors Association 612/926-6547) hoặc đại diện quản lý thu nợ của
Bang để biết thêm về các yêu cầu này.

Hãy yêu cầu thông tin nhiều hơn là việc chỉ biết hộp thư của khách hàng

Để gia tăng khả năng kiểm soát một cá nhân hoặc một doanh nghiệp, hãy luôn hỏi khách hàng của bạn một địa chỉ cụ thể (thậm chí ngay cả khi bạn gửi tài liệu, hàng hóa thông qua hộp thư). Hãy hỏi số điện thoại, mã số an toàn xã hội. Cũng nên làm việc với các cơ quan báo cáo độ tín nhiệm. Mọi thông tin này sẽ rất có ích trong việc xác định và tìm kiếm một cá nhân khi họ thay đổi hộp thư, địa chỉ hoặc số điện thoại.
Kiến thức kinh tế

09/05/2013

Theo quy định tại nghị định 43/2010/NĐ-CP việc áp dụng mã ngành kinh tế có trong quyết định 10/2007/QĐ-TTg trong việc đăng ký kinh doanh được áp dụng thống nhất trên toàn quốc

Đăng ký kinh doanh theo mã ngành là quy định bắt buộc áp dụng toàn quốc bắt đầu tư năm 2010. Quy định này được áp dụng tại Hà Nội vào ngày 01/07/2009. Theo đó khi Lập công ty, bổ sung ngành nghề kinh doanh doanh nghiệp phải ghi nội dung ngành nghề theo mã ngành kinh tế quốc dân 4 số ghi nhận tại quyết định 10/2007/QĐ-TTg. Đối với những ngành nghề chưa có trong mã ngành nhưng có trong các quy định chuyên ngành Sở kế hoạch đầu tư vẫn xem xét chấp thuận đăng ký. Tuy nhiên việc chấp thuận này chưa có sự thống nhất và dựa chính vào ý kiến chủ quan của chuyên viên thụ lý hồ sơ.
Để hoàn thiện kẽ hở này ngày 09/01/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 05/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về thủ tục hành chính của Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15/04/2010 về đăng ký doanh nghiệp. Theo Nghị định này, đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét ghi ngành, nghề kinh doanh ngày vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu không thuộc ngành, nghề cấm kinh doanh, đồng thời thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư để bổ sung mã mới.
Bên cạnh đó, Nghị định còn có một nội dung đáng chú ý về việc công bố đăng ký doanh nghiệp. Cụ thể, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thành lập hoặc đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải đăng nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia theo quy định và phải trả phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp; công ty cổ phần phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán số cổ phần đó cho tất cả cổ đông phải gửi văn bản thông báo đến địa chỉ thường trú của các cổ đông theo hình thức gửi bảo đảm, đồng thời, thông báo này phải được đăng trên Cổng Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia hoặc đăng báo trong 03 số liên tiếp trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo…
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định số lượng hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh là 01 bộ…
st

06/05/2013

Một số khái niệm mở trong luật đầu tư

Luật Đầu tư được xây dựng trên một số khái niệm cơ bản, trong đó, có hai khái niệm quan trọng nhất là nhà đầu tư (NĐT) và dự án đầu tư. Nhưng hai khái niệm này không được luật xác định rõ ràng.
Nhà đầu tư là ai?
Luật Đầu tư định nghĩa NĐT là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nghĩa là gồm cả NĐT trong nước và NĐT nước ngoài. Tuy nhiên, do Luật Đầu tư và văn bản hướng dẫn thi hành cùng một lúc sử dụng tiêu chí kép để xác định NĐT (gồm quốc tịch và nguồn vốn của NĐT), do đó, rất khó để xác định thế nào là NĐT trong nước hoặc NĐT nước ngoài, hoặc Việt kiều là NĐT trong nước hay nước ngoài (1) .
Từ đây, phát sinh hàng loạt hệ lụy pháp lý về tư cách của các doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Doanh nghiệp do NĐT nước ngoài đầu tư sẽ được coi là doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài? Được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (GCNĐKKD) hay giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT)? Khi nào thì bị coi là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: khi bên nước ngoài chỉ nắm 1% vốn hay phải từ 49% hoặc 51% trở lên? Doanh nghiệp trong nước có phải đổi GCNĐKKD thành GCNĐT khi có vốn nước ngoài hay vẫn tồn tại song song cả hai loại giấy này?...
Thậm chí có sự nhầm lẫn trong tư cách của NĐT trong các biểu mẫu hồ sơ áp dụng cho đầu tư nước ngoài theo Quyết định 1088/2006/QĐ-BKH. Trong các mẫu đơn này, người ký đơn là NĐT. Yêu cầu NĐT ký tên trong các hồ sơ là trái với các quy định trong Luật Doanh nghiệp và nguyên tắc quản lý hành chính.
Theo Luật Doanh nghiệp, người ký đơn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, chứ không phải là cổ đông, thành viên của doanh nghiệp (tức là NĐT). Về mặt pháp lý, NĐT và doanh nghiệp là hai thực thể pháp lý khác nhau, NĐT không thể đương nhiên đại diện cho doanh nghiệp trước cơ quan nhà nước Việt Nam.
Hơn nữa, GCNĐT được cấp cho doanh nghiệp và khi muốn thay đổi nội dung GCNĐT, chính doanh nghiệp phải làm đơn gửi cơ quan nhà nước thông qua người đại diện theo pháp luật của mình. Việc cho phép NĐT đứng đơn tạo ra sự can thiệp sâu vào việc điều hành doanh nghiệp trái với Luật Doanh nghiệp.
Dự án đầu tư hiểu sao cho đúng?
Khái niệm quan trọng thứ hai là dự án đầu tư. Theo Luật Đầu tư, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Khái niệm dự án như trên thuần túy là một khái niệm kinh tế, chứ không phải khái niệm luật. Nó là tập hợp các hoạt động kinh tế dự kiến của doanh nghiệp và luôn thay đổi.
Theo định nghĩa của luật như trên, bất cứ hoạt động kinh doanh nào của doanh nghiệp đều có thể coi là một dự án đầu tư: xây dựng một tòa nhà, mua bán một công ty, đầu tư vào công ty khác, mở thêm một chi nhánh, bổ sung thêm ngành nghề...
Khái niệm dự án đầu tư quá rộng như vậy, dẫn đến sự áp dụng tràn lan - doanh nghiệp hầu như làm cái gì cũng phải đăng ký dự án đầu tư: Mua đất xây trụ sở - cần GCNĐT, mở thêm chi nhánh - cần GCNĐT...
Hậu quả là doanh nghiệp tốn thời gian, chi phí trong khi cơ quan nhà nước lúc nào cũng than nhiều việc. Luật Đầu tư hiện nay sa đà vào việc quản lý dự án đầu tư của các doanh nghiệp, trong khi đầu tư là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phải do doanh nghiệp tự quản và tự chịu trách nhiệm.
Ngoài ra, các hình thức đầu tư trong Luật Đầu tư cũng không rõ ràng. Theo điều 21, các hình thức đầu tư trực tiếp bao gồm (i) thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn; (ii) thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các NĐT trong nước và NĐT nước ngoài; (iii) đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT; (iv) đầu tư phát triển kinh doanh; (v) mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; (vi) đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp và (vii) các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Lưu ý rằng, khái niệm tổ chức kinh tế liên doanh hay công ty liên doanh không tồn tại trong Luật Doanh nghiệp. Còn hình thức “đầu tư phát triển kinh doanh” - một hình thức đầu tư hoàn toàn mới lạ và quá chung chung, hoặc việc “mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư” cũng có thể hiểu là “sáp nhập và mua lại doanh nghiệp”.

03/05/2013

Công ty CP Tư Vấn Nguyên Hà tư vấn doanh nghiệp, xin các loại giấy phép

Address

Địa Chi: Số 1 Ngõ 49/28 Huỳnh Thúc Kháng. Quận Đống Đa
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Luật Sư Đoàn Gia posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Luật Sư Đoàn Gia:

Share