Tư vấn pháp luật về đất đai

Tư vấn pháp luật về đất đai Tư vấn pháp luật về đất đai

10/09/2025

Điều kiện mua, thuê mua nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở năm 2023

Bài viết phân tích các điều kiện để mua, thuê mua nhà ở xã hội, về hồ sơ, thủ tục thực hiện để chứng minh cho các điều kiện này theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các quy định của pháp luật trước đây, bài viết sẽ chỉ ra những điểm mới cần lưu ý của Luật Nhà ở năm 2023 về điều kiện để mua, thuê mua nhà ở xã hội, đưa ra đánh giá và dự báo tác động của các quy định này.

Đặt vấn đề

Vấn đề nhà ở xã hội đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm trong thời gian qua. Để chính sách này phục vụ đúng đối tượng và hạn chế hiện tượng trục lợi từ việc mua, bán nhà ở xã hội, pháp luật đã có các quy định chặt chẽ, rõ ràng về đối tượng, điều kiện, hồ sơ chứng minh, quy trình xét duyệt,... So với pháp luật trước đây, Luật Nhà ở năm 2023 đã có nhiều điều chỉnh về vấn đề này theo hướng phù hợp hơn, minh bạch hơn. Đây là điều cần thiết và phù hợp với nhu cầu tiếp cận nhà ở ngày càng cao của các nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp người có nhu cầu mua nhà ở xã hội tuy đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định nhưng lại gặp khó khăn trong khâu chuẩn bị hồ sơ, thủ tục, khiến họ bị mất đi cơ hội có nhà ở giá cả phải chăng. Vì vậy, để đưa Luật vào đời sống thì các cơ quan thực thi pháp luật và người dân cần nắm rõ sự thay đổi của pháp luật, đồng thời cần hướng dẫn thêm một số vấn đề trong quá trình triển khai.

1. Đối tượng được mua, thuê mua nhà ở xã hội

Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023 liệt kê 12 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội, từ đó thiết kế các chính sách hỗ trợ về nhà ở phù hợp và quy định các điều kiện cụ thể để được hưởng chính sách cho các nhóm đối tượng này. Đây là những đối tượng mà Nhà nước cho rằng khó khăn, cần hỗ trợ về chỗ ở. Tuy nhiên, theo khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023 thì chỉ có 08 nhóm đối tượng được hỗ trợ giải quyết mua, thuê mua nhà ở xã hội, bao gồm:

(1) Người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng.

(2) Hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị.

(3) Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị.

(4) Công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp.

(5) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.

(6) Đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ, trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định Luật Nhà ở.

(7) Hộ gia đình, cá nhân thuộc trường hợp bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

(8) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, công nhân công an, công chức, công nhân và viên chức quốc phòng đang phục vụ tại ngũ; người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác mà chưa được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhìn chung, 08 đối tượng được hỗ trợ mua, thuê mua nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở năm 2023 cơ bản được kế thừa từ quy định của Luật Nhà ở năm 2014, trong đó bổ sung một số đối tượng như “thân nhân liệt sĩ thuộc trường hợp được hỗ trợ cải thiện nhà ở”, “công nhân đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp”, “người làm công tác cơ yếu, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu hưởng lương từ ngân sách nhà nước đang công tác”... Đối với đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ, Luật Nhà ở năm 2023 đã loại trừ trường hợp bị thu hồi nhà ở công vụ do vi phạm quy định của Luật Nhà ở. Những điều chỉnh này đã đảm bảo tính bao quát, hướng chính sách về nhà ở xã hội tập trung vào các đối tượng có thu nhập thấp, có khó khăn về nhà ở.

Ngoài 08 nhóm đối tượng trên, Luật Nhà ở năm 2023 còn giao quyền cho UBND cấp tỉnh quy định thêm các đối tượng khác cũng được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Theo khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023, căn cứ điều kiện của địa phương, UBND cấp tỉnh có thể quy định việc hỗ trợ giải quyết bán, cho thuê mua, cho thuê nhà ở xã hội cho đối tượng hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn, hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Họ cũng được hỗ trợ cho vay vốn ưu đãi để mua, thuê mua nhà ở xã hội. Cơ chế linh hoạt này là một điểm mới đáng lưu ý của Luật Nhà ở năm 2023 so với Luật Nhà ở năm 2014. Theo Luật Nhà ở năm 2014, các đối tượng trên sẽ không được mua, thuê mua nhà ở xã hội cũng như không được hỗ trợ vay vốn ưu đãi tại Ngân hàng chính sách xã hội, tổ chức tín dụng do Nhà nước chỉ định. Điều này đã tạo ra sự phân biệt, đối xử giữa người thu nhập thấp ở khu vực nông thôn và người người thu nhập thấp ở khu vực thành thị và không phù hợp với điều kiện phát triển thực tế ở nhiều địa phương. Bởi lẽ, có những đối tượng thường trú tại khu vực hành chính là xã (nông thôn) nhưng ở đó có điều kiện kinh tế phát triển với các khu công nghiệp, nhu cầu nhà ở cũng rất cao, do không được hỗ trợ nên nhóm đối tượng này rất khó khăn trong việc mua nhà. Luật Nhà ở năm 2023 đã có chính sách mang tính toàn quốc quy định hỗ trợ cho người nghèo mua nhà ở xã hội, không biệt khu vực nông thôn hay thành thị. Việc bổ sung quy định mới của Luật Nhà ở năm 2023 sẽ tạo ra nhiều cơ hội để nhóm đối tượng yếu thế như là hộ gia đình nghèo, cận nghèo tại khu vực nông thôn được mua ở xã hội.

Những điểm mới quan trọng trong quy định của Luật Nhà ở năm 2023 so với các quy định trước đây sẽ tạo điều kiện trong việc mở rộng đối tượng được tiếp cận về nhà ở xã hội, góp phần thúc đẩy và hỗ trợ giải quyết bài toán tiếp cận nhà ở cho người có thu nhập thấp tại các địa phương. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, mở rộng đối tượng mua, thuê mua nhà ở xã hội đồng nghĩa với việc tăng cầu về nhà ở xã hội trong khi nguồn cung vốn rất hạn chế, từ đó đặt ra yêu cầu đối với khâu xét duyệt đối tượng phải chặt chẽ hơn.

2. Điều kiện được mua, thuê mua nhà ở xã hội

Sau khi đáp ứng tiêu chí về đối tượng, người có nhu cầu mua, thuê mua nhà ở xã hội còn phải đáp ứng các điều kiện luật định. Trước đây, điều kiện được mua, thuê mua nhà ở xã hội của người thu nhập thấp được quy định tại Điều 51 Luật Nhà ở năm 2014 bao gồm 03 điều kiện: (1) Điều kiện về thực trạng nhà ở; (2) Điều kiện về cư trú; và (3) Điều kiện về thu nhập. So với Luật Nhà ở năm 2014, khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 đã bãi bỏ điều kiện về cư trú. Điều này phù hợp với thực tế dịch chuyển và thu hút lao động giữa các vùng miền, địa phương và phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là điểm mới rất quan trọng, góp phần tháo gỡ, hỗ trợ tối đa cho người lao động tiếp cận nhà ở dễ dàng hơn, vì phần lớn các đối tượng có nhu cầu về nhà ở xã hội hầu hết là người lao động nhập cư từ các tỉnh thành khác về các khu công nghiệp phát triển để làm việc, và sinh sống. Như vậy, từ ngày 01/8/2024, để mua, thuê mua nhà ở xã hội, đối tượng mua, thuê mua nhà ở xã hội chỉ cần có đủ điều kiện về thu nhập và nhà ở.

2.1. Điều kiện về nhà ở

Điều kiện này áp dụng đối với tất cả các chủ thể có thể được hỗ trợ mua, thuê mua nhà ở xã hội (8 nhóm đối tượng tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023), nhằm đảm bảo đối tượng được hưởng chính sách về nhà ở xã hội là những người có khó khăn về chỗ ở, cần được Nhà nước hỗ trợ. Cụ thể, các đối tượng được xem là đáp ứng “điều kiện về nhà ở” khi họ thuộc một trong hai trường hợp sau:

Một là, chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình: Các đối tượng tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023 phải chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó, chưa được mua hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở dưới mọi hình thức tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó. (điểm a khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023).

Điểm mới trong quy định của Luật Nhà ở năm 2023 là điều kiện về nhà ở được xác định tại “tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội đó”, mà không xét đến “nơi sinh sống, học tập” của người được hưởng chính sách nhà ở xã hội như Luật Nhà ở năm 2014. Điểm mới này nhằm bảo đảm minh bạch, thuận lợi trong áp dụng, đáp ứng nhu cầu thực sự của người thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội.

Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023 không quy định rõ việc xác định điều kiện “chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình” là như thế nào. Về vấn đề này được hướng dẫn chi tiết theo Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/07/2024 của Chính phủ hướng dẫn Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội (sau đây viết là Nghị định số 100/2024/NĐ-CP”). Theo Điều 29 Nghị định này, điều kiện “chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình” được xác định khi đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023 và vợ hoặc chồng của đối tượng đó (nếu có) không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó tại thời điểm nộp hồ sơ đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội. Nghĩa là, việc xác định tình trạng nhà ở của một người căn cứ vào việc họ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, và điều kiện này không chỉ xem xét đối với cá nhân người nộp đơn mà còn đối với vợ hoặc chồng của họ.

Để chứng minh điều kiện chưa có nhà ở, các đối tượng có nhu cầu mua, thuê mua nhà ở xã hội phải làm “Giấy xác nhận về điều kiện nhà ở” theo Mẫu số 02 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD ngày 31/7/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở, gửi đến Văn phòng/Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó đề nghị xác nhận không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, Văn phòng/Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có dự án nhà ở xã hội đó sẽ thực hiện việc xác nhận.

Việc xác định một người chưa có nhà ở dựa vào việc họ không có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tuy tạo thuận tiện trong quá trình xác nhận, nhưng sẽ khó đảm bảo tính chính xác. Đơn cử như trường hợp người đó đã có nhà nhưng không đăng ký quyền sở hữu hoặc đã có nhà mà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu (ví dụ trường hợp mua nhà tại các dự án nhà ở bị chậm cấp Giấy chứng nhận). Mặt khác, các cơ quan chức năng cần phải xây dựng đồng bộ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về đất đai, nhà ở, ít nhất là trọng phạm vi một tỉnh thành, đảm bảo tính liên thông, để các Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai cấp huyện có thể xác nhận tình trạng nhà ở của một người ngoài phạm vi địa bàn quận, huyện mà họ quản lý.

Hai là, có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu: Theo khoản 2 Điều 29 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP, trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 77 Luật Nhà ở năm 2023 có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người thấp hơn 15 m2 sàn/người.

Quy định trên đã nâng mức “diện tích nhà ở bình quân đầu người” để được xem xét mua, thuê mua nhà ở xã hội đối với những người đã có nhà ở từ 10 m2 sàn/người lên 15 m2 sàn/người, từ đó tạo thuận lợi cho các hộ gia đình có nhà ở nhưng chật chội, không đảm bảo chỗ sinh hoạt… Nghị định số 100/2024/NĐ-CP cũng quy định rõ diện tích nhà ở bình quân đầu người được xác định trên cơ sở bao gồm: người đứng đơn và các thành viên trong hộ gia đình (vợ/chồng của người đó, cha, mẹ (bao gồm cả cha, mẹ vợ/chồng) (nếu có) và các con của người đó (nếu có) đăng ký thường trú tại căn nhà đó. Với việc quy định rõ ràng, chi tiết về cách xác định số người sống chung nhà như trên sẽ bảo đảm tính minh bạch, thuận lợi trong việc áp dụng, đáp ứng nhu cầu thực sự của người thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội.

Trong trường hợp này, các đối tượng có nhu cầu mua, thuê mua nhà ở xã hội phải làm “Giấy xác nhận về điều kiện nhà ở” theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư 05/2024/TT-BXD, gửi đến UBND cấp xã nơi người kê khai đang cư trú theo hình thức đăng ký thường trú. Trong đó, họ phải kê khai các thông tin về: số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai, diện tích sàn sử dụng nhà ở (m2), họ và tên các thành viên trong hộ gia đình,… UBND cấp xã thực hiện việc xác nhận trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận.

Vấn đề đặt ra là liệu UBND cấp xã nơi người kê khai cư trú có nắm được hiện trạng, diện tích nhà ở của người đó để xác nhận hay không? UBND cấp xã sẽ xác nhận dựa trên cơ sở nào, có phải xuống tận nơi để kiểm tra, xác minh, đo đạc lại? Nếu không làm rõ những vấn đề trên sẽ dẫn đến việc xác nhận theo cảm tính, tuỳ tiện. Hơn nữa, xác định diện tích bình quân đầu người dựa trên số lượng người có đăng ký thường trú tại căn nhà đó thì liệu có đảm bảo tiêu chí “khó khăn về chỗ ở” hay không, nếu những người này tuy có đăng ký thường trú nhưng không sống thường xuyên tại nhà ở đó? Hoặc có những người tuy không thuộc các đối tượng được liệt kê ở trên (ví dụ: cháu, anh chị em ruột,…) nhưng họ ở nhờ nhà của người kê khai thì lại không được xem xét. Đây cũng là những vấn đề cần suy ngẫm.

2.2. Điều kiện về thu nhập

Quy định người mua, thuê mua nhà ở xã hội phải đáp ứng điều kiện về thu nhập là cần thiết nhằm tập trung giải quyết nhà ở cho nhóm đối tượng có thu nhập thấp trong bối cảnh nguồn lực đầu tư cho nhà ở còn thiếu. Theo điểm b khoản 1 Điều 78 Luật Nhà ở năm 2023, khác với điều kiện về nhà ở, điều kiện về thu nhập không áp dụng cho tất cả các đối tượng được mua, thuê mua nhà ở xã hội mà chỉ áp dụng cho 04 nhóm đối tượng quy định tại các khoản 5, 6, 7 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở.

Điểm mới của Luật Nhà ở năm 2023 là không quy định cụ thể về điều kiện thu nhập để hưởng chính sách nhà ở xã hội trong Luật mà giao Chính phủ quy định. Đây được coi là điểm mới đáng chú ý, đã khắc phục được những bất cập của quy định pháp luật trước đây. Bởi lẽ, Luật Nhà ở năm 2014 quy định điều kiện về thu nhập là phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, những người có tổng thu nhập từ tiền lương, tiền công trên 11 triệu đồng/tháng (không có người phụ thuộc) sẽ không được mua, thuê mua nhà ở xã hội. Mức thu nhập 11 triệu đồng/tháng được đánh giá không còn phù hợp với điều kiện kinh tế hiện nay vì giá nhà ở xã hội đã tăng mạnh so với trước đây. Do đó, việc Luật Nhà ở năm 2023 không có quy định “cứng” về điều kiện thu nhập ngay trong Luật đã bảo đảm sự linh hoạt, phù hợp với thực tiễn thu nhập của người lao động cũng như hài hòa giữa nhu cầu thụ hưởng chính sách với nguồn cung nhà ở xã hội.

Theo Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP, đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 Luật Nhà ở năm 2023, “điều kiện về thu nhập” được xác định theo “mức thu nhập hàng tháng thực nhận” tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận và tùy thuộc vào tình trạng hôn nhân. Cụ thể:

Thứ nhất, đối với người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (có hợp đồng lao động), công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức: Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng. Trường hợp đã kết hôn thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng.

Các đối tượng này phải làm “Giấy xác nhận về điều kiện thu nhập” theo Mẫu số 04 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD, gửi đến cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi người kê khai Giấy xác nhận về điều kiện thu nhập đang làm việc để xác nhận. Thời gian xác định điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề, tính từ thời điểm đối tượng nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội.

Thứ hai, đối với người thu nhập thấp tại khu vực đô thị không có hợp đồng lao động: nếu là người độc thân thì thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 15 triệu đồng, nếu đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 30 triệu đồng. Đối tượng này phải làm “Giấy kê khai về điều kiện thu nhập” theo Mẫu số 05 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 05/2024/TT-BXD, gửi đến UBND cấp xã nơi người kê khai đăng ký thường trú tạm trú xác nhận về điều kiện thu nhập. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được đơn đề nghị xác nhận, UBND cấp xã thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập trong 01 năm liền kề tính từ thời điểm đối tượng quy định tại khoản này nộp hồ sơ hợp lệ cho chủ đầu tư để đăng ký mua, thuê mua nhà ở xã hội.

Như vậy, so với quy định của Luật Nhà ở năm 2014, điều kiện thu nhập theo quy định của pháp luật nhà ở hiện hành đã được nâng từ mức không quá 11 triệu đồng lên mức không quá 15 triệu đồng/người/tháng, qua đó “nới lỏng” điều kiện được mua nhà ở xã hội. Đáng chú ý là pháp luật đã làm rõ quy trình, thủ tục, hồ sơ xin xác nhận điều kiện về thu nhập, đảm bảo thuận tiện cho quá trình áp dụng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc xác nhận cho người có thu nhập thấp.

Tuy nhiên, thực tế thu nhập dưới 15 triệu đồng vẫn khó mua nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội tuy là loại nhà ở “giá rẻ” nhưng là “rẻ” so với nhà ở thương mại trong cùng khu vực, còn giá nhà ở xã hội vẫn ở mức cao so với thu nhập của nhiều người. Phần lớn trong số họ muốn mua nhà thì phải vay tiền từ ngân hàng. Mức thu nhập dưới 15 triệu khiến họ khó chứng minh khả năng trả nợ với ngân hàng, và kể cả có được vay thì với việc hàng tháng phải trả cả gốc lẫn lãi cho ngân hàng, tính thêm chi phí sinh hoạt, học tập của con cái hay những chi tiêu khác của gia đình thì cũng khó đáp ứng được. Ngược lại, thu nhập trên 15 triệu/tháng không đủ điều kiện mua nhà ở xã hội thì cũng chưa chắc đủ khả năng mua nhà ở thương mại. Điều này dẫn đến nghịch lý: người “được mua” thì không “mua được”, mà người “mua được” thì không “được mua”. Rất khó để đưa ra một con số chính xác về mức thu nhập bao nhiêu là hợp lý để cần được hỗ trợ bằng chính sách nhà ở xã hội. Do đó, cần thêm thời gian áp dụng pháp luật để có thể nhận định mức thu nhập trên có phù hợp không. Ngoài ra, việc giao cho UBND cấp xã xác nhận mức thu nhập cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị không có hợp đồng lao động mà không quy định rõ tiêu chí, căn cứ, điều kiện để xác nhận cũng sẽ một khó khăn cho quá trình triển khai những quy định này trên thực tế.

Kết luận

Thực tiễn thi hành Luật Nhà ở năm 2014 cho thấy những rào cản khiến người có nhu cầu khó mua, thuê mua nhà ở xã hội phần nhiều phát sinh từ khâu thủ tục, chứng minh điều kiện được hưởng chính sách nhà ở xã hội. Khắc phục hạn chế này, Luật Nhà ở năm 2023 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những bổ sung, sửa đổi quan trọng theo hướng: (1) nới lỏng các điều kiện về đối tượng, về chỗ ở và về thu nhập; (2) quy định rõ thủ tục, mẫu đơn xác nhận, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc xác nhận các điều kiện. Các quy định này được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội cho người nghèo, người có thu nhập thấp có thể tiếp cận nhà ở xã hội. Tuy nhiên, một số vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu, hướng dẫn rõ ràng để những điểm mới này đi vào cuộc sống.


ThS. NGÔ GIA HOÀNG (Trường Đại học Luật TP. HCM)

04/09/2025

Những quy định mới về người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024: Hoàn thiện và thống nhất với quy định của các Luật có liên quan.

Luật Đất đai (Luật số 31/2024/QH15) ban hành ngày 18/01/2024 thay thế cho Luật Đất đai năm 2013. Luật gồm 16 Chương, 260 Điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 180/212 Điều của Luật Đất đai năm 2013 và bổ sung mới 78 Điều. Trên cơ sở thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và nội dung Nghị quyết số 18-NQ/TW, kế thừa những điểm mạnh của Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 với nhiều nội dung mới đã có những bước tiến quan trọng trong tiến trình hoàn thiện chính sách nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khắc phục những bất cập, tồn tại trong quá trình quản lý, sử dụng đất.

Do đó, việc nắm bắt những điểm mới của Luật Đất đai, đặc biệt là các quy định mới về người sử dụng đất, góp phần đánh giá được những tác động của chính sách pháp luật mới tới quá trình quản lý, sử dụng đất nói chung và các giao dịch dân sự liên quan tới bất động sản nói riêng. Từ đó, xác định, đề xuất các nội dung cụ thể cần có văn bản hướng dẫn chi tiết để quá trình áp dụng pháp luật thống nhất và thuận lợi.

Người sử dụng đất là một trong những chủ thể giữ vai trò quan trọng tới hiệu quả khai thác và sử dụng đất. Đây cũng là một trong những nội dung rất quan trọng của pháp luật đất đai.

Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định 7 nhóm chủ thể là người sử dụng đất bao gồm: (1) Tổ chức trong nước; (2) Hộ gia đình, cá nhân trong nước; (3) Cộng đồng dân cư; (4) Cơ sở tôn giáo; (5) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; (6) Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (7) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định 7 nhóm chủ thể là người sử dụng đất nhưng có nhiều thay đổi so với Luật Đất đai năm 2013, cụ thể: (1) Tổ chức trong nước; (2) Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; (3) Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam; (4) Cộng đồng dân cư; (5) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; (6) Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài; (7) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trên cơ sở kế thừa những điểm phù hợp và khắc phục những hạn chế. Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 đã có những điểm mới trong quy định về người sử dụng đất, như sau:

Thứ nhất, bổ sung thêm 02 căn cứ để trở thành người sử dụng đất.

Bên cạnh 4 căn cứ để tạo lập quyền sử dụng đất được quy định tại Luật Đất đai năm 2013, bao gồm “được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất”. Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 bổ sung thêm 2 căn cứ:

(1) Chủ thể đang sử dụng đất trên thực tế, mặc dù chưa được cấp Giấy chứng nhận nhưng sử dụng đất ổn định và đủ các điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trong đó:

- Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sử dụng đất ổn định (khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024). Khái niệm này lần đầu được Luật hoá tại Luật Đất đai thay vì chỉ được quy định tại văn bản dưới Luật như Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Đây là căn cứ quan trọng để thực hiện cấp giấy chứng nhận cho người sử dụng đất, do đó việc ghi nhận chính thức tại Luật Đất đai là điều cần thiết.

- Các trường hợp đang sử dụng đất trên thực tế và được cấp giấy chứng nhận được quy định tại Điều 137 (Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất); Điều 138 (Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà không vi phạm pháp luật về đất đai, không thuộc trường hợp đất được giao không đùng thẩm quyền) và một số trường hợp được xem xét cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 (Điều 139) hoặc đang sử dụng đất được giao không đúng thẩm quyền (Điều 140);

(2) Thuê lại đất theo quy định của Luật Đất đai: Giao dịch thuê lại đất không phải là giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, tức không làm thay đổi chủ thể có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, nhằm khuyến khích chủ đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng và những nhà đầu tư sản xuất, kinh doanh khác khi thuê lại đất của chủ đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng khi thực hiện những dự án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Luật Đất đai quy định vẫn sẽ cấp Giấy chứng nhận cho người đi thuê lại. Do đó, điểm c Khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 đã ghi nhân nội dung này như một ưu đãi nhằm thu hút chủ đầu tư. Vì khi được cấp Giấy chứng nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư trong việc huy động nguồn vốn và yên tâm trong quá trình sử dụng, đầu tư vào đất. Nội dung này đã được đề cập tại khoản 3 Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP về những trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận "người thuê, thuê lại đất của người sử dụng đất, trừ trường hợp thuê, thuê lại đất của nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế" nhưng chưa được ghi nhận tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, bổ sung căn cứ thuê lại đất cũng có thể trở thành người sử dụng đất là phù hợp, đảm bảo tính đồng bộ trong các quy định của Luật Đất đai.

Thứ hai, hộ gia đình sử dụng đất không còn là chủ thể sử dụng đất độc lập

Hộ gia đình sử dụng đất không còn là chủ thể sử dụng đất độc lập mà được ghi nhận như nhóm người sử dụng đất, cụ thể: Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 không quy định hộ gia đình là người sử dụng đất. Đồng thời, khoản 25 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 quy định một trong các điều kiện để trở thành hộ gia đình sử dụng đất là phải đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm tạo lập quyền sử dụng đất nhưng phải trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành. Do đó, từ ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực thi hành, hộ gia đình sẽ không được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất. Điều 259 Luật Đất đai năm 2024 cũng quy định đối với hộ gia đình được xác định trước ngày Luật này có hiệu lực thì được tham gia quan hệ pháp luật về đất đai với tư cách nhóm người sử dụng đất mà có chung quyền sử dụng đất và có quyền, nghĩa vụ như cá nhân sử dụng đất. Quy định này nhằm giải quyết địa vị pháp lý của hộ gia đình sử dụng đất được hình thành trước ngày Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực. Mặt khác, quy định này cũng đảm bảo sự đồng bộ với pháp luật dân sự, cụ thể: Điều 101 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định hộ gia đình tham gia quan hệ dân sự thì thành viên của hộ gia đình là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Quy định trên đã xác định hộ gia đình không phải là chủ thể độc lập trong pháp luật dân sự. Do đó, nếu Luật Đất đai vẫn ghi nhận hộ gia đình sử dụng đất vẫn là một chủ thể độc lập trong pháp luật đất đai sẽ tạo ra mâu thuẫn giữa các lĩnh vực pháp luật vốn có sự liên kết chặt chẽ với nhau.

Luật Đất đai năm 2013 không xác định thành viên của hộ gia đình sử dụng đất vì trên Giấy chứng nhận chỉ ghi tên một thành viên đại diện. Đồng thời, vấn đề phân định phần quyền của từng thành viên đối với quyền sử dụng đất chưa được quy định làm rõ. Về mặt logic, quyền sử dụng đất là tài sản chung của các thành viên hộ gia đình sử dụng đất, nên việc định đoạt QSDĐ phải được sự đồng ý của toàn bộ thành viên và từng thành viên sẽ được định đoạt theo phần quyền của mình. Nhưng những vấn đề này không được quy định rõ dẫn đến thực trạng triển khai thực hiện và bảo vệ quyền lợi của thành viên hộ gia đình gặp rất nhiều khó khăn. Do đó, Luật Đất đai năm 2024 quy định quyền lợi của thành viên hộ gia đình được xác định như nhóm người sử dụng đất nên quyền, nghĩa vụ của họ được xác định rõ ràng.

Thứ ba, quy định rõ hơn địa vị pháp lý của người sử dụng đất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Khoản 6 Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định về người sử dụng đất bao gồm “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch”. Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”. Khoản 3, 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2024 quy định về người sử dụng đất bao gồm “3. Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam (sau đây gọi là cá nhân); 6. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

Như vậy, trên tinh thần của Luật Quốc tịch, Luật Đất đai năm 2024 phân người Việt Nam định cư ở nước ngoài thành hai nhóm người sử dụng đất riêng biệt. Theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam cùng với cá nhân trong nước là một nhóm (gọi chung là cá nhân); người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được tách thành một nhóm riêng. Đây là một trong các điểm mới cơ bản của Luật Đất đai năm 2024, thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, góp phần thúc đẩy đầu tư và thu hút kiều hối từ công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vào trong nước.

Thứ tư, sửa đổi thuật ngữ pháp lý trong trường hợp người sử dụng đất là tôn giáo.

“Cơ sở tôn giáo” là người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2013 được thay đổi thành “Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc". Nội dung này phù hợp với quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Theo đó, khoản 12 Điều 2 quy định "Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo"; khoản 13 Điều 2 quy định "Tổ chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ quy định của tổ chức tôn giáo". Trong khi đó, “cơ sở tôn giáo” được hiểu gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thành thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo. Như vậy, “cơ sở tôn giáo” chỉ các địa điểm hoạt động tôn giáo chứ không phải là chủ thể của hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng.

Thứ năm, sửa đổi thuật ngữ pháp lý trong trường hợp người sử dụng đất là chủ thể kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Người sử dụng đất là “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 được thay đổi thành “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". Đây cũng là một chủ thể sử dụng đất rất quan trọng của pháp luật đất đai. “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” là tổ chức kinh tế, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam nhưng có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Nhà đầu tư nước ngoài có thể là cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. Sự thay đổi này phù hợp và đảm bảo sự thống nhất giữa Luật Đất đai và Luật Đầu tư năm 2020.

Như vậy, với các quy định mới về người sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024 như đã phân tích nêu trên đã khắc phục được tình trạng mâu thuẫn, thiếu tình đồng bộ với các ngành luật khác. Đồng thời khắc phục được những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn quản lý, sử dụng đất. Từ đó, tạo ra môi trường pháp lý minh bạch, hạn chế rủi ro, vướng mắc trong các giao dịch liên quan đến bất động sản.

Address

D16, Man Bồi Gốc Găng, TDP 9, Phú Lãm
Hanoi
100000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tư vấn pháp luật về đất đai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Practice

Send a message to Tư vấn pháp luật về đất đai:

Share