03/08/2023
Cha mẹ có thể đòi lại đất khi con dâu/con rể/con đẻ bất hiếu, không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng?
Theo quy định khoản 2 Điều 459 BLDS 2015, Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký.
Như vậy, đối với tài sản tặng cho là quyền sử dụng đất, kể từ thời điểm người nhận hoàn thành thủ tục đăng ký sang tên thì hợp đồng tặng cho được tính là có hiệu lực và người tặng cho sẽ không thể đòi lại được tài sản đã tặng cho, trừ khi thuộc một trong các trường hợp sau:
1. Việc tặng cho giữa cha mẹ và con cái là giao dịch dân sự vô hiệu
Có nhiều trường hợp khiến cho một giao dịch dân sự trở nên vô hiệu. Giao dịch
dân sự có thể bị vô hiệu do giả tạo; do nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng bức; do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; hay do không tuân thủ quy định về hình thức.
Đối với giao dịch về bất động sản, thường xảy ra trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Ví dụ, khi các bên tiến hành giao kết hợp đồng mà chỉ dựa trên lời nói hoặc có lập thành văn bản nhưng không công chứng, chứng thực thì có thể là căn cứ để xác định giao dịch dân sự vô hiệu.
Tuy nhiên, tùy từng trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu mà thời hiệu để yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu có sự khác nhau.
Về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Điều 131 BLDS 2015 quy định như sau:
“1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả".
Như vậy, khi hợp đồng tặng cho thuộc trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu, hai bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, con cái buộc phải trả lại đất đai đã nhận từ bố mẹ.
2. Hợp đồng tặng cho là hợp đồng có điều kiện
Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tặng cho tài sản có điều kiện:
Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Như vậy, trong hợp đồng phải nêu rõ điều kiện là con cái phải có nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc với cha, mẹ…sau khi được tặng cho quyền sử dụng đất. Đây sẽ là căn cứ để cha mẹ có căn cứ đòi lại đất khi con cái không làm tròn bổn phận của mình.
Trên thực tế, ngoài hợp đồng tặng cho, cha mẹ có thể chứng minh rằng việc tặng cho là có điều kiện dựa vào các văn vản, giấy tờ khác liên quan (tham khảo án lệ số 14/2017/AL).
Bài học rút ra:
1. Để giao dịch dân sự không bị vô hiệu cần tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao dịch về bất động sản;
2. Trường hợp tặng cho có điều kiện thì cần ghi rõ nội dung của điều kiện trong hợp đồng tặng, cho.
---------------------------
Các dịch vụ cung cấp hỗ trợ khách hàng:
Tư vấn cho khách hàng trình tự thủ tục khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách chủ thể và soạn đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền;
Tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai khi tặng cho quyền sử dụng đất;
Tư vấn pháp luật về khiếu kiện về bồi thường và nghĩa vụ tài chính liên quan đến nhà đất;
Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc của Khách hàng;
Soạn thảo, chuẩn bị các loại giấy tờ liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai về việc tặng, cho;
Đề xuất những kiến nghị, giải pháp giải quyết mâu thuẫn trong đất đai;
Đại diện khách hàng làm việc tại những cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
Tham gia vào quá trình thương lượng, hòa giải tranh chấp đất đai;
Tham gia vào quá trình tố tụng tranh chấp đất đai.